HUỲNH TẤN PHÁT – NGƯỜI KIẾN TRÚC SƯ DÙNG CẢ CUỘC ĐỜI ĐỂ DỰNG XÂY TỔ QUỐC

HUỲNH TẤN PHÁT – NGƯỜI KIẾN TRÚC SƯ DÙNG CẢ CUỘC ĐỜI ĐỂ DỰNG XÂY TỔ QUỐC
Có những con người bước vào lịch sử không chỉ bằng những chức vụ họ từng đảm nhiệm, mà bằng cách họ đã sống, đã lựa chọn và đã cống hiến cả cuộc đời mình cho đất nước. Đồng chí Huỳnh Tấn Phát là một con người như thế. Ông là một kiến trúc sư tài hoa, một trí thức lớn của Nam Bộ, nhưng trước vận mệnh của dân tộc, ông đã từ bỏ con đường riêng đầy hứa hẹn để dấn thân vào cách mạng. Từ một người trí thức yêu nước ở Sài Gòn, ông trở thành nhà hoạt động cách mạng kiên trung, một trong những người lãnh đạo tiêu biểu của phong trào cách mạng miền Nam và sau đó giữ cương vị Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cuộc đời đồng chí Huỳnh Tấn Phát là một hành trình đặc biệt: từ những bản vẽ kiến trúc đến những năm tháng hoạt động giữa chiến khu, từ khát vọng dựng nên những công trình của một người kiến trúc sư đến khát vọng lớn hơn là dựng xây một đất nước độc lập, thống nhất và hòa bình.
Đồng chí Huỳnh Tấn Phát sinh ngày 15 tháng 2 năm 1913 tại xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình có điều kiện để ông theo đuổi con đường học vấn. Ông học tại Trường Mỹ thuật Đông Dương và sớm bộc lộ năng khiếu đặc biệt về kiến trúc. Sau khi tốt nghiệp, ông trở thành một trong những kiến trúc sư người Việt có tên tuổi ở Nam Kỳ. Nhưng trong một đất nước đang sống dưới ách thuộc địa, tài năng và tương lai cá nhân không khiến người trí thức ấy quên đi nỗi đau mất nước. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ông đã tích cực tham gia các phong trào yêu nước; năm 1936, ông tham gia phong trào Đông Dương Đại hội, rồi thành lập và làm chủ nhiệm tờ Thanh niên, một tờ báo có khuynh hướng chống Pháp, chống Nhật. Ngày 5 tháng 3 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Con đường đến với cách mạng của một trí thức như Huỳnh Tấn Phát không phải là một sự lựa chọn dễ dàng. Ông đang có nghề nghiệp, có tài năng và có thể xây dựng cho mình một cuộc sống ổn định, nhưng ông hiểu rằng khi đất nước chưa có độc lập thì những thành công riêng của một cá nhân vẫn không thể khỏa lấp nỗi đau của cả dân tộc. Vì thế, ông lựa chọn đứng về phía nhân dân, lựa chọn con đường mà ở đó tài năng của mình không chỉ phục vụ cho những công trình riêng mà phải phục vụ cho một mục tiêu lớn hơn. Từ một kiến trúc sư, ông trở thành một người hoạt động cách mạng; từ một trí thức yêu nước, ông dần trở thành một nhà lãnh đạo có uy tín trong phong trào cách mạng Nam Bộ.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ, Huỳnh Tấn Phát bước vào những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ. Ông hoạt động trong điều kiện vô cùng nguy hiểm, nhiều lần bị địch bắt giam, nhưng ý chí cách mạng không vì thế mà lay chuyển. Cũng chính trong những năm tháng ấy, gia đình ông dần trở thành một gia đình cách mạng đặc biệt, nơi người vợ và những người con cũng lần lượt gắn bó với cuộc đấu tranh của dân tộc. Bà Bùi Thị Nga, người bạn đời của ông, không chỉ là người vợ đứng phía sau mà cũng là một người hoạt động cách mạng, từng bị địch giam cầm và luôn âm thầm hỗ trợ chồng hoàn thành nhiệm vụ. Hai ông bà đã cùng nhau trải qua những năm tháng mà hạnh phúc gia đình nhiều khi phải nhường chỗ cho nhiệm vụ với đất nước.
Nhưng có lẽ, câu chuyện về gia đình Huỳnh Tấn Phát đau đáu nhất khi nhắc đến người con gái Huỳnh Lan Khanh. Chị sinh ngày 14 tháng 9 năm 1948 tại Sài Gòn, là nữ sinh Trường Gia Long, lớn lên trong một gia đình mà cha mẹ đều tham gia cách mạng. Năm 1965, tổ chức có ý định đưa chị ra miền Bắc học tập, đào tạo để sau này trở về xây dựng quê hương, nhưng cô nữ sinh trẻ tuổi ấy đã tha thiết xin được ở lại. Khi được vào căn cứ thăm cha mẹ, chị tiếp tục xin ở lại tham gia công tác và cuối cùng được chấp thuận. Từ một cô gái vốn được nhận xét là khá yếu ớt, lại bị cận thị nặng, Huỳnh Lan Khanh nhanh chóng thích nghi với cuộc sống chiến khu: làm công tác văn thư, đánh máy tài liệu, đào hầm, đào công sự, gặt lúa, trồng khoai mì, tải gạo, làm cấp dưỡng và trực gác bảo vệ cơ quan. Điều khiến đồng đội quý trọng chị không chỉ là sự chăm chỉ mà còn là tính khiêm nhường, nguyên tắc và ý thức không bao giờ dựa vào thân phận con của một cán bộ lãnh đạo để được ưu tiên.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, khi các cơ quan ở căn cứ Trung ương Cục miền Nam bước vào những ngày khẩn trương, Huỳnh Lan Khanh vừa hoàn thành công việc đánh máy lúc nửa đêm vừa tranh thủ đi cùng đồng đội tải gạo cho hậu cứ. Ngày 4 tháng 1 năm 1968, đoàn công tác sáu người rời căn cứ và không may lọt vào ổ phục kích của địch tại khu vực Trảng Dầu. Một trận chiến quyết liệt diễn ra, địch điều cả trực thăng vũ trang đến yểm trợ. Hai đồng đội của chị là Thắng và Giỏi hy sinh tại chỗ, còn Huỳnh Lan Khanh bị thương ở đùi, mất kính nên không thể nhìn rõ đường chạy và bị biệt kích Mỹ bắt. Chúng đưa người nữ chiến sĩ trẻ lên trực thăng. Nhưng chị đã không khuất phục. Huỳnh Lan Khanh lao khỏi chiếc trực thăng đang bay, chấp nhận hy sinh để không rơi vào tay kẻ thù. Đồng đội sau đó tìm thấy thi thể chị trong rừng Tây Ninh.
Có lẽ không có gì đau đớn hơn đối với một người cha cách mạng khi người con gái mà mình từng yêu thương, từng lo lắng và từng biết rằng con còn quá trẻ, lại hy sinh giữa chiến trường ở tuổi 17. Huỳnh Tấn Phát đã có thể đối diện với những cuộc truy bắt, những nhà tù, những hiểm nguy của cách mạng bằng bản lĩnh của một người chiến sĩ, nhưng nỗi đau mất con vẫn là nỗi đau riêng mà không một chức vụ hay danh hiệu nào có thể làm vơi đi. Người cha ấy đã dành cuộc đời cho Tổ quốc, nhưng chính gia đình ông cũng phải chịu những mất mát mà chiến tranh để lại. Hơn ba mươi năm sau ngày Huỳnh Lan Khanh hy sinh, gia đình và đồng đội vẫn kiên trì tìm kiếm. Đến cuối tháng 2 năm 2002, hài cốt của chị cùng hai đồng đội Thắng và Giỏi mới được tìm thấy và đưa về an nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 25 tháng 4 năm 2015, liệt sĩ Huỳnh Lan Khanh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Câu chuyện về Huỳnh Lan Khanh khiến cuộc đời Huỳnh Tấn Phát hiện lên với một chiều sâu khác. Đằng sau người lãnh đạo từng đứng trước những vấn đề lớn của lịch sử là một người cha cũng phải trải qua nỗi đau mất con như bao người cha khác. Nhưng điều đáng trân trọng là gia đình ấy không xem sự hy sinh của một người con là lý do để lùi bước. Cả ông, người vợ và những người con đều đã lựa chọn con đường cách mạng trong những năm tháng mà lựa chọn ấy đồng nghĩa với việc phải chấp nhận gian khổ, chia ly và có thể hy sinh. Tổ quốc được đánh đổi không chỉ bằng những trận đánh ngoài mặt trận, mà còn bằng những nỗi đau âm thầm trong mỗi gia đình. Và gia đình Huỳnh Tấn Phát là một trong những gia đình đã mang nỗi đau ấy suốt nhiều năm để góp phần làm nên ngày đất nước thống nhất.
Đầu những năm 1960, Huỳnh Tấn Phát tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển phong trào cách mạng ở miền Nam. Đầu năm 1961, ông được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam Khu Sài Gòn - Gia Định, góp phần đoàn kết nhiều lực lượng và cá nhân yêu nước dưới ngọn cờ chung của cách mạng. Ông cũng có vai trò quan trọng trong việc vận động các nhân sĩ, trí thức tiêu biểu ở Sài Gòn ra vùng giải phóng, góp phần thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam vào tháng 4 năm 1968. Với khả năng tập hợp, thuyết phục và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, ông trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của công tác mặt trận ở miền Nam.
Tháng 6 năm 1969, tại Đại hội đại biểu Quốc dân toàn miền Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập và kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được bầu làm Chủ tịch. Trên cương vị đặc biệt ấy, ông cùng tập thể Chính phủ lãnh đạo đấu tranh trên nhiều mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân miền Nam. Chính phủ Cách mạng lâm thời theo đuổi chính sách hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập; đồng thời phối hợp với cuộc đấu tranh trên chiến trường và tại Hội nghị Paris, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi. Ngay trong tháng thành lập, Chính phủ đã được 23 nước công nhận, trong đó 21 nước thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ.
Ngày đất nước thống nhất năm 1975 không phải là điểm kết thúc trong cuộc đời cống hiến của Huỳnh Tấn Phát. Đối với ông, đó là thời điểm bắt đầu một nhiệm vụ mới: cùng cả nước hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng lại quê hương và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách như Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trên những cương vị ấy, ông vẫn giữ phong cách của một trí thức gắn bó với nhân dân, luôn đề cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm với đất nước.
Có một điều đặc biệt khi nhìn lại cuộc đời Huỳnh Tấn Phát: ông là kiến trúc sư, nhưng công trình lớn nhất của cuộc đời ông không nằm trên một bản vẽ. Những công trình kiến trúc có thể được dựng bằng bê tông, thép và những đường nét tính toán, còn công cuộc dựng xây đất nước cần đến trí tuệ, lòng kiên trì, sự hy sinh và cả sự cống hiến của nhiều thế hệ. Người kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát đã từ bỏ một tương lai riêng để tham gia vào công trình lớn hơn của dân tộc. Ông góp sức đấu tranh để đất nước có độc lập, góp sức xây dựng để đất nước có hòa bình và góp sức tập hợp nhân dân để sức mạnh dân tộc được phát huy. Nếu một kiến trúc sư dùng bản vẽ để hình dung nên một công trình, thì Huỳnh Tấn Phát đã dùng cả cuộc đời mình để góp phần dựng xây hình hài của một nước Việt Nam độc lập, thống nhất.
Ngày 6 tháng 9 năm 1989, đồng chí Huỳnh Tấn Phát qua đời, khép lại một cuộc đời đã đi qua những bước ngoặt lớn nhất của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX. Từ một chàng trai Bến Tre học kiến trúc ở Sài Gòn đến một nhà trí thức yêu nước, từ người hoạt động cách mạng trong những năm tháng đầy hiểm nguy đến Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, rồi tiếp tục cống hiến trong những năm đầu đất nước thống nhất, ông luôn giữ một lựa chọn nhất quán: đặt lợi ích của dân tộc và nhân dân lên trên lợi ích riêng của bản thân.
Nhưng khi nhắc đến đồng chí Huỳnh Tấn Phát, có lẽ chúng ta không chỉ nên nhớ đến những chức vụ ông từng đảm nhiệm hay những đóng góp lớn lao của ông trong lịch sử. Chúng ta còn cần nhớ đến một người cha đã mất người con gái mới 17 tuổi giữa chiến trường, một gia đình đã cùng nhau đi qua những năm tháng mà hạnh phúc riêng nhiều lần phải nhường chỗ cho nhiệm vụ của đất nước. Hình ảnh Huỳnh Lan Khanh lao khỏi chiếc trực thăng để giữ trọn khí tiết, rồi hơn ba mươi năm sau mới được đưa trở về với gia đình, khiến chúng ta hiểu rằng phía sau những trang sử lớn lao luôn có những câu chuyện riêng đầy nước mắt. Những người làm nên lịch sử cũng là những con người bằng xương bằng thịt, biết yêu thương, biết đau đớn và biết mất mát; chỉ có điều khi Tổ quốc cần, họ đã chấp nhận đặt nỗi đau riêng xuống phía sau trách nhiệm với non sông.
Hôm nay, thế hệ trẻ được sống trong một đất nước hòa bình, thống nhất, được học tập và theo đuổi những ước mơ của riêng mình. Chúng ta có thể trở thành những người thầy, người bác sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư, nhà khoa học hay những người lao động bình thường; nhưng câu chuyện về đồng chí Huỳnh Tấn Phát nhắc chúng ta rằng nghề nghiệp dù cao quý đến đâu cũng chỉ thật sự có ý nghĩa khi tài năng của mình được dùng để làm điều có ích cho cộng đồng và đất nước. Nếu thế hệ của ông đã dùng tuổi trẻ để giành lại độc lập, thì thế hệ hôm nay phải dùng tri thức, trách nhiệm và khát vọng để giữ gìn và phát triển thành quả ấy.
Xin được kính cẩn tưởng nhớ đồng chí Huỳnh Tấn Phát – người kiến trúc sư tài hoa đã không chỉ dựng nên những công trình bằng tài năng của mình, mà còn dành cả cuộc đời để dựng xây một Tổ quốc độc lập, thống nhất và hòa bình. Xin được tưởng nhớ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Huỳnh Lan Khanh – người con gái đã gửi lại tuổi xuân nơi chiến trường khi mới 17 tuổi. Và xin được cúi đầu trước cả một thế hệ đã chấp nhận hy sinh những điều quý giá nhất của đời mình để đất nước có được ngày hôm nay.
Chúng ta không thể trả lại tuổi trẻ cho những người đã hy sinh, cũng không thể xóa đi những mất mát mà chiến tranh đã để lại. Điều duy nhất thế hệ hôm nay có thể làm là sống sao cho xứng đáng. Học tập nghiêm túc hơn, sống có trách nhiệm hơn, biết yêu thương đồng bào, biết trân trọng hòa bình và biết đem những gì mình có để góp phần xây dựng quê hương. Bởi những người như đồng chí Huỳnh Tấn Phát và người con gái Huỳnh Lan Khanh đã trao lại cho chúng ta không chỉ một đất nước, mà còn trao lại một lời nhắc nhở thiêng liêng: Tổ quốc được xây dựng bằng sự cống hiến của từng con người, và hòa bình hôm nay được viết nên từ những tuổi xuân đã mãi mãi nằm lại trong lịch sử.



