Huỳnh Thị Ngọc - "Đóa hồng thép" với màn giả điên xuất sắc
Đồng chí Huỳnh Thị Ngọc là một tấm gương kiên cường, bất khuất của tuổi trẻ miền Nam khi trở thành thủ lĩnh phong trào Thanh niên học sinh Quy Nhơn khi vừa tròn 18 tuổi. Trong quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí đã mưu trí, dũng cảm lãnh đạo nhiều trận đánh vang dội; tiêu biểu là cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên vào tháng 2/1971 thiêu rụi 52 xe quân sự Mỹ, và trận đánh mở màn chiến dịch "Mùa hè đỏ lửa" tháng 2/1972, trực tiếp chỉ huy đội biệt động Trần Văn Ơn tiêu diệt 5 tên ác ôn khét
Trong những năm tháng kháng chiến gian khổ của dân tộc, thế hệ cha anh đã viết nên những trang sử bằng cả máu, nước mắt và một trí tuệ can trường. Có những cuộc đấu tranh nổ ra bằng súng đạn ở chiến trường, nhưng cũng có những cuộc chiến thầm lặng, đầy cân não ngay trong lòng địch. Giữa ngọn lửa rực lửa của tuổi trẻ ngày ấy, đồng chí Huỳnh Thị Ngọc nổi lên như một biểu tượng kiên trung, một "đóa hồng thép" đầy mưu trí và quả cảm của phong trào học sinh, sinh viên Quy Nhơn. Bước vào con đường cách mạng từ khi còn rất trẻ, ở tuổi 18, cái tuổi đẹp nhất của đời người, đồng chí đã gánh vác trọng trách lớn lao: trở thành thủ lĩnh của phong trào Thanh niên học sinh Quy Nhơn. Dưới sự dẫn dắt của người nữ thủ lĩnh trẻ tuổi, phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên nơi đây đã phát triển mạnh mẽ, trở thành một mũi giáp công sắc bén ngay trong lòng địch.
Tháng 2/1972, lịch sử phong trào học sinh, sinh viên Quy Nhơn ghi nhận một mốc son chói lọi khi bà Huỳnh Thị Ngọc trực tiếp phụ trách đội biệt động học sinh, sinh viên Trần Văn Ơn. Bà nhận nhiệm vụ đặc biệt: đánh phủ đầu tân Tỉnh trưởng Bình Định Nguyễn Văn Chức – một viên quan chức của chế độ cũ vừa nhậm chức. Đây là trận đánh mở đầu cho chiến dịch “Mùa hè đỏ lửa” do Khu ủy miền Trung phát động, diễn ra tại sân vận động Quy Nhơn ngay đêm diễn ra lễ ra mắt nhân dân của viên tân tỉnh trưởng. Giữa đêm tối, một tiếng nổ lớn vang lên làm rung chuyển màn đêm, khiến Nguyễn Văn Chức bị thương nặng, năm đối tượng khác đền tội tại chỗ, trong đó có viên phó tỉnh trưởng khét tiếng gian ác, tay đã nhúng đầy nợ máu của nhân dân.
Sau trận đánh kinh hoàng đó, kẻ địch điên cuồng lùng sục, bắt bớ khắp nơi. Cuối tháng 2/1972, do có kẻ phản bội chỉ điểm, bà Huỳnh Thị Ngọc bị giặc bắt giữ khi đang trên đường từ căn cứ trở về thị xã. Lúc bấy giờ, trong người bà có một tấm thẻ kiểm tra hợp pháp mang tên Nguyễn Thị Thu Cúc, nên bà chỉ một mực khai mình là Thu Cúc. Tuy nhiên, vì tên phản bội đã khai ra toàn bộ danh tính và chức vụ của bà, giặc đã dùng những hình phạt tàn khốc nhất hòng bẻ gãy ý chí người con gái trẻ. Chúng đánh bà đến liệt cả hai chân, tàn nhẫn dùng chiêu thức “tra rắn” – bỏ bầy rắn bò lổm ngổm vào trong ống quần rồi buộc chặt lại, và “tra đèn” – dùng hai ngọn đèn hàng nghìn oát chiếu thẳng vào đầu liên tục suốt ngày đêm. Sau này, bà Ngọc vẫn rùng mình nhớ lại cái cảm giác lành lạnh, nhồn nhột, ghê tởm của bầy rắn làm bà hoảng loạn đến cùng cực, còn ánh đèn thì khiến đầu óc lúc trống rỗng, lúc đậm đặc đến mất hết mọi cảm giác.
Đứng trước thử thách quá lớn ở tuổi 21, khi bản thân đang nắm giữ hàng loạt bí mật về các cơ sở Đảng cốt lõi, bà Ngọc hiểu rằng nếu cứ tiếp tục chịu đòn, có thể thể xác sẽ phản bội lại lý trí. Bà quyết định phải bất hợp tác, không nói, không ăn, chỉ nằm bất động với ánh mắt mở trừng trừng, lơ láo. Nhận được tín hiệu, chi bộ nhà tù lập tức phối hợp tung tin bà đã bị phát điên vì đòn tra tấn. Không tin một thủ lĩnh sừng sỏ lại dễ dàng gục ngã, địch kết án tử hình bà rồi bí mật dùng máy bay áp giải vào Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn – nơi được mệnh danh là có thể “nấu chảy mọi cái đầu sắt của cộng sản”. Tại đây, chúng dựng lên một trường bắn giả để thử thách. Ngay tại pháp trường, đối mặt với chiếc cọc trói, bà Ngọc vẫn khóc cười điên dại. Kể cả khi tên chỉ huy lạnh lùng siết cò, hai phát súng chát chúa nổ vang, đạn xẹt qua thái dương làm cháy xém cả lọn tóc mai, ánh mắt bà vẫn vô hồn, không một chút sợ hãi. Lúc này, giặc mới tin bà điên thật và buộc phải đưa bà vào Bệnh viện Tâm Trí Biên Hòa với hồ sơ bệnh án số 650/72 mang kết luận: Chấn loạn thần kinh.
Tại Bệnh viện Tâm Trí Biên Hòa, bà Ngọc phải sống trong những khu nhà chật hẹp, chịu đựng những liều thuốc an thần cực mạnh khiến cơ thể tê liệt, nước bọt chảy ra cũng không thể tự nuốt. Suốt 6 tháng ròng rã "diễn tròn vai" người điên, cơ hội đã đến khi bà được nữ bác sĩ người Bỉ Olivette Mikolaczak – một phụ nữ tiến bộ thuộc Hội từ thiện – thăm khám. Bằng sự nhạy bén và chân thành, bà Ngọc đã mạo hiểm nói ra sự thật cho nữ bác sĩ. Cảm động trước ý chí của người con gái Việt Nam, bác sĩ Olivette đã âm thầm giúp đỡ: không tiêm thuốc tê liệt, không cạo trọc đầu và tạo điều kiện cho bà ra ngoài lao động. Đến đầu tháng 3/1975, lợi dụng lúc nông trường viện hỗn loạn trong giờ ăn sáng, bà Ngọc dùng sợi dây xích chuẩn bị sẵn, nhanh chóng trèo tường vượt ngục. Bà chui vào nấp sau một đống rác lớn, thay quần áo, giả làm người đi chợ sớm rồi đàng hoàng bước lên xe buýt. Đến ngày 30/4/1975, người con gái kiên cường ấy đã hòa cùng đoàn quân chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Để tri ân những công lao to lớn đó, năm 1998, bà Huỳnh Thị Ngọc đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nếu như câu chuyện của anh hùng Huỳnh Thị Ngọc là biểu tượng của tinh thần thép nơi ngục tù, thì ở hậu phương, hình ảnh những ngọn đèn dầu lại là minh chứng cho tấm lòng thủy chung, son sắt của các mẹ, các chị đối với cách mạng. Tại Bảo tàng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng trên đất lửa Quảng Nam, có cây đèn dầu xuất hiện ở vị trí rất trang trọng, đã trải qua hai cuộc kháng chiến và được Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Trị gìn giữ trao lại. Mẹ Trị chính là con gái cả của mẹ Nguyễn Thị Thứ – bà mẹ tiêu biểu có 9 con trai liệt sĩ. Đào 5 căn hầm bí mật trong vườn nhà để nuôi giấu cán bộ, đêm đêm, hễ nhìn vào bàn thờ thấy ngọn đèn dầu được mẹ thắp sáng thì các chiến sĩ có thể yên tâm lên mặt đất hoạt động; ngược lại, khi đèn tắt chính là lúc giặc đang lùng sục, hiểm nguy cận kề.
Cũng trên đất thép Quảng Nam không chỉ có cây đèn của mẹ Lê Thị Trị mà còn có một “ngọn đèn không tắt” khác nữa, đó là ánh đèn của bà Phạm Thị Cọng, nguyên Bí thư Phụ nữ xã Điện Tiến. Trong suốt những năm 1968-1975, nhiều lần bà dùng ánh đèn dầu báo hiệu cho bộ đội mỗi lúc vượt sông Yên, đưa thương binh qua vùng nguy hiểm. Ánh sáng ấy được bộ đội và du kích trìu mến gọi là “ngọn đèn không tắt” cho đến tận những năm cuối của cuộc kháng chiến, và vào ngày 26/4/2018, bà Phạm Thị Cọng đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Không chỉ ở miền Nam, tại Thanh Hóa, chiếc đèn chai của nữ sư thầy Đàm Duyên, trụ trì chùa Nam Ngạn, cũng đã đi vào huyền thoại. Tuy không thuộc thành phần tham gia kháng chiến nhưng sư thầy đã hai lần xung phong đi dân công gánh bộ, vận chuyển lương thực lên Tây Bắc phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Để chuẩn bị cho chuyến đi, sư thầy đã tự chế chiếc đèn từ vỏ chai thủy tinh, buộc vào đầu đòn gánh, soi sáng suốt hàng trăm cây số đường rừng để đưa từng hạt gạo nghĩa tình ra chiến trường.
Những câu chuyện về Anh hùng Huỳnh Thị Ngọc với bộ hồ sơ bệnh án đổi bằng máu và nước mắt, hay những ngọn đèn dầu thầm lặng của các mẹ, các chị chính là minh chứng vĩ đại cho sức mạnh của lòng dân. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng ánh lửa từ những ngọn đèn không tắt và ý chí kiên cường của một thế hệ "thà chết không hàng" vẫn luôn soi sáng, nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị vô giá của độc lập và tự do.


