Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Huỳnh Thúc Kháng

Thân thế Theo tên chữ Hán trên trang bìa quyển Tập diễn văn của ông Hoàng Thúc Kháng, in năm 1926 thì đúng ra đọc (và viết) tên ông phải là Hoàng Thúc Kháng. Tuy nhiên, do kiêng húy Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng, họ Hoàng phải đổi thành Huỳnh. Đến nay các tỉnh miền Trung và Nam vẫn dùng âm Huỳnh. Tuy vậy, vẫn có sách dùng Hoàng Thúc Kháng.[3] Ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng). Cha của ông là Huỳnh Văn Phương, tự Tấn Hữu, xuất thân nhà nông hào nhưng cũng học qua Nho học, nhiều lần thi cử nhưng không đỗ. Mẹ của ông là Nguyễn Thị Tình, người làng Hội An nhưng cư ngụ làng Phú Thị (nay thuộc xã Sơn Cẩm Hà)[4], em ruột Phó bảng Nguyễn Đình Tựu. Ông là người con thứ 4 và là con trai út trong nhà, nhưng vì 2 anh trai mất sớm, chị gái cả Huỳnh Thị Duật (sinh năm 1873), lấy chồng tại Hương Lâm, Tứ Chánh nay thuộc xã Tiên Hiệp, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam nên ông là người con trai duy nhất

TP. Hồ Chí Minh12/08/2026Xã Măng Đen (Đoàn xã Măng Đen)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thân thế

Theo tên chữ Hán trên trang bìa quyển Tập diễn văn của ông Hoàng Thúc Kháng, in năm 1926 thì đúng ra đọc (và viết) tên ông phải là Hoàng Thúc Kháng. Tuy nhiên, do kiêng húy Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng, họ Hoàng phải đổi thành Huỳnh. Đến nay các tỉnh miền Trung và Nam vẫn dùng âm Huỳnh. Tuy vậy, vẫn có sách dùng Hoàng Thúc Kháng.[3]

Ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng). Cha của ông là Huỳnh Văn Phương, tự Tấn Hữu, xuất thân nhà nông hào nhưng cũng học qua Nho học, nhiều lần thi cử nhưng không đỗ. Mẹ của ông là Nguyễn Thị Tình, người làng Hội An nhưng cư ngụ làng Phú Thị (nay thuộc xã Sơn Cẩm Hà)[4], em ruột Phó bảng Nguyễn Đình Tựu. Ông là người con thứ 4 và là con trai út trong nhà, nhưng vì 2 anh trai mất sớm, chị gái cả Huỳnh Thị Duật (sinh năm 1873), lấy chồng tại Hương Lâm, Tứ Chánh nay thuộc xã Tiên Hiệp, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam nên ông là người con trai duy nhất.[3]

Học vấn

Bởi sự kỳ vọng của song thân, từ nhỏ ông đã được rèn dạy để tiến thân bằng khoa cử. Ông bắt đầu học chữ Nho từ năm 8 tuổi dưới sự dạy dỗ của người cậu ruột là Tế tửu Quốc tử giám Nguyễn Đình Tựu và đổi tên là Huỳnh Hanh, tự là Giới Sanh.[3] Năm Mậu Tý (1900), ông đậu Giải nguyên kỳ thi Hương, năm Giáp Thìn (1904), ông đỗ Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân[5].

Sự nghiệp

Lãnh đạo phong trào Duy Tân

Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Trần Quý Cáp là những nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân. Vì lý do đó, ông bị bắt trong năm 1908, rồi bị đày ở Côn Đảo suốt 13 năm, đến mãi năm 1921 mới được trả tự do.[6]

Hoạt động trong Nghị viện Trung Kỳ

Năm 1926, Huỳnh Thúc Kháng đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trong ba năm hoạt động ở Viện, với tư cách Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ ông đưa ra những thỉnh cầu nhằm sửa đổi một số điều luật nhằm giảm thuế rượu, thuế muối, phổ cập chữ quốc ngữ… thì bị chính quyền thực dân Pháp bác bỏ. Ông đã tranh luận gay gắt với Khâm sứ Trung Kỳ. Sau cuộc tranh luận đó, ông tuyên bố từ chức Viện trưởng.[7]

Sáng lập báo Tiếng Dân

Năm 1927, Huỳnh Thúc Kháng cùng Đào Duy Anh sáng lập tờ báo Tiếng Dân, được xuất bản tại Huế, và bị chính quyền thời bấy giờ đình bản năm 1943.[8] Báo Tiếng Dân đòi mở mang giáo dục, canh nông, phản ánh thực trạng xã hội, đòi tự do báo chí, bảo vệ thuần phong mỹ tục… Báo còn là cơ quan ngôn luận công khai của phong trào yêu nước và là một diễn đàn chính trị. Trong suốt 16 năm tồn tại, báo Tiếng Dân trở thành tiếng nói bênh vực quyền lợi của nhân dân, phơi bày những bất công xã hội, phản đối sưu cao thuế nặng, góp phần vào việc nâng cao sự giác ngộ chính trị của người dân.[9] Trong khi làm báo Tiếng Dân, vào năm 1935, ông bị Đảng Cộng sản Đông Dương xem là quốc gia cải lương "trong lúc kinh tế khủng hoảng cũng giả ra bộ xăng xe "phản đối đế quốc" là người chủ của chúng để cướp ảnh hưởng trong quần chúng, để củng cố nền thống trị của đế quốc phong kiến, và để bán mình cho cao giá.[10]".

Tham gia Chính phủ Liên hiệp

Chính phủ Việt Nam năm 1946, Huỳnh Thúc Kháng đứng hàng đầu, đầu tiên từ phải sang.

Cách mạng tháng 8 thành công, Huỳnh Thúc Kháng quyết định nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia Chính phủ Liên hiệp lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Theo sử gia Trần Trọng Kim thì trong thời gian này, khi được hỏi về công việc, Huỳnh Thúc Kháng đã nói: "Bây giờ việc gì cũng do địa phương tự trị cả, thành ra không có việc gì mấy, và khi có việc gì, thì họ làm sẵn xong cả rồi, tôi chỉ có vài chữ ký mà thôi".[11]

Năm 1946, khi Hồ Chí Minh sang Pháp để tham dự Hội nghị Fontainebleau, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thời gian này ông còn là Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Cuối năm 1946, ông là Đặc phái viên của Chính phủ vào cơ quan Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.[12]

Ngày 21 tháng 4 năm 1947, Huỳnh Thúc Kháng lâm bệnh nặng và mất tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, khi vẫn còn đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.[12] Tang lễ của ông được tổ chức theo nghi thức Quốc tang do Hồ Chí Minh làm trưởng ban lễ tang. Làm theo tâm nguyện của ông, nhân dân đã an táng ông trên đỉnh núi Thiên Ấn, nơi được mệnh danh là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi. Nhà lưu niệm Huỳnh Thúc Kháng tại xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, Quảng Nam vẫn còn lưu giữ nhiều kỷ vật có giá trị, được một người cháu nuôi trong dòng tộc bảo quản.

Ngày 19 tháng 2 năm 2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký quyết định truy tặng Huân chương Sao Vàng để ghi nhận những đóng góp của ông đối với đất nước.[13]

Đánh giá

Trong thư gửi vĩnh biệt cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:

"Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà Cụ trước đây bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo. Mười mấy năm trường gian nan cực khổ, nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của Cụ chẳng những không sờn, mà lại thêm cương quyết.

Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đầu cho dân được tự do, nước được độc lập, đến ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập Chính phủ ta mời Cụ ra. Tuy đã 71 tuổi, nhưng Cụ vẫn hăng hái nhận lời, Cụ nói: "Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng ra sức phụng sự Tổ quốc"".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn