Huỳnh Thúc Kháng: khí tiết của bậc sĩ phu
Chí sĩ Quảng Nam, linh hồn phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ, 13 năm tù Côn Đảo, Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, chủ bút báo Tiếng Dân và Quyền Chủ tịch nước năm 1946.

Sinh ngày 1 tháng 10 năm 1876 tại làng Thạnh Bình, Quảng Nam, Huỳnh Thúc Kháng tên khai sinh là Huỳnh Hanh. Ông đỗ Giải nguyên khoa thi Hương năm 1900 và Tiến sĩ năm 1904, nhưng từ chối con đường làm quan để dấn thân vào sự nghiệp cứu nước. Năm 1905, ông cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp vào Nam khảo sát dân tình, rồi về Quảng Nam khởi xướng phong trào Duy Tân với tôn chỉ khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh: mở trường dạy chữ Quốc ngữ, lập hội buôn, bài trừ hủ tục. Phong trào bùng lên thành cuộc chống thuế năm 1908, khiến ông bị đày ra Côn Đảo suốt 13 năm. Trong ngục tù, ông giữ vững khí tiết, tự học tiếng Pháp và ghi lại trải nghiệm trong tác phẩm Thi tù tùng thoại. Được trả tự do năm 1921, ông đắc cử Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ năm 1926, dùng nghị trường đòi quyền dân, rồi khẳng khái từ chức năm 1928 để phản đối Khâm sứ Pháp. Năm 1927, ông sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế và làm chủ bút suốt 16 năm. Sau Cách mạng Tháng Tám, ở tuổi gần 70, ông ra Hà Nội gánh vác việc nước, từng giữ chức Quyền Chủ tịch nước năm 1946, rồi qua đời năm 1947, là tấm gương sáng của bậc đại trí thức yêu nước.



