Huỳnh Thúc Kháng – Người chí sĩ 13 năm Côn Đảo vẫn giữ trọn lòng son với dân tộc
Huỳnh Thúc Kháng (tên khai sinh là Huỳnh Hanh) sinh ngày 1/10/1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Thạnh Bình, xã Tiên Cảnh, thành phố Đà Nẵng). Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước và sớm nổi tiếng là người thông minh, ham học, có chí lớn.
Trong nền khoa cử Nho học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Huỳnh Thúc Kháng là một trong những nhân tài xuất sắc của đất Quảng. Năm 1900, ông đỗ đầu kỳ thi Hương. Đến năm 1904, ông đỗ Tiến sĩ, trở thành một trong những trí thức tiêu biểu của cả nước lúc bấy giờ. Với học vấn và danh vọng đạt được, ông hoàn toàn có thể bước vào con đường quan trường để hưởng cuộc sống đủ đầy và quyền quý. Tuy nhiên, trước cảnh nước mất, dân khổ dưới ách thống trị của thực dân Pháp, Huỳnh Thúc Kháng đã lựa chọn một con đường khác: dấn thân cho sự nghiệp cứu nước.
Đầu thế kỷ XX, cùng với các chí sĩ yêu nước như Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp, ông trở thành một trong những người khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ. Phong trào chủ trương nâng cao dân trí, chấn hưng thực nghiệp, cải cách xã hội và khơi dậy tinh thần tự cường dân tộc. Những hoạt động của phong trào nhanh chóng lan rộng, tạo ảnh hưởng sâu sắc trong nhân dân.
Năm 1908, phong trào chống thuế bùng nổ khắp Trung Kỳ. Thực dân Pháp coi đây là một mối đe dọa lớn đối với bộ máy cai trị nên đã tiến hành đàn áp quyết liệt. Huỳnh Thúc Kháng bị bắt, kết án và đày ra Côn Đảo. Mười ba năm sống trong nhà tù được mệnh danh là “địa ngục trần gian” trở thành thử thách khắc nghiệt nhất trong cuộc đời ông.
Tại Côn Đảo, Huỳnh Thúc Kháng phải chịu đựng xiềng xích, lao dịch nặng nhọc, bệnh tật và những hình thức giam cầm hà khắc. Tuy nhiên, mọi sự tra tấn về thể xác đều không thể khuất phục ý chí của người chí sĩ yêu nước. Ông cùng nhiều đồng chí khác biến nhà tù thành nơi học tập, trao đổi tư tưởng và giữ vững tinh thần đấu tranh. Với Huỳnh Thúc Kháng, thân thể có thể bị giam cầm nhưng khát vọng độc lập dân tộc thì không gì có thể trói buộc.
Năm 1921, sau khi được trả tự do, ông tiếp tục hoạt động vì dân tộc bằng con đường báo chí và văn hóa. Năm 1927, ông sáng lập tờ báo Tiếng Dân tại Huế và giữ cương vị chủ bút trong suốt 16 năm. Trong bối cảnh đất nước còn dưới ách thuộc địa, Tiếng Dân trở thành một trong những tờ báo có ảnh hưởng lớn nhất ở Trung Kỳ, kiên trì bảo vệ quyền lợi của nhân dân, cổ vũ tinh thần yêu nước và đấu tranh cho các quyền tự do dân chủ.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đây là sự ghi nhận đối với uy tín, tài năng và nhân cách lớn của một người đã dành trọn đời mình cho đất nước.
Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau, Huỳnh Thúc Kháng được giao giữ chức Quyền Chủ tịch nước. Trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những thử thách vô cùng nghiêm trọng, ông đã cùng Chính phủ điều hành công việc quốc gia, góp phần giữ vững nền độc lập non trẻ của dân tộc. Việc được giao trọng trách này thể hiện sự tin tưởng đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đối với phẩm chất chính trị, lòng yêu nước cũng như đức độ của ông.
Ngày 21/4/1947, Huỳnh Thúc Kháng từ trần tại tỉnh Quảng Ngãi khi đang làm nhiệm vụ. Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với đồng bào cả nước. Trong thư gửi quốc dân sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ca ngợi nhân cách của ông bằng những lời đầy trân trọng: “Giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan”.
Cuộc đời Huỳnh Thúc Kháng là biểu tượng tiêu biểu cho khí phách của lớp trí thức yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Từ một vị Tiến sĩ Nho học từ bỏ con đường công danh để cứu nước, đến người tù chính trị kiên cường suốt 13 năm ở Côn Đảo, rồi nhà báo, nhà hoạt động chính trị và Quyền Chủ tịch nước của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ở bất cứ cương vị nào ông cũng đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.
Tên tuổi Huỳnh Thúc Kháng mãi mãi được ghi nhớ như một tấm gương sáng về lòng yêu nước, ý chí bất khuất và nhân cách lớn của dân tộc Việt Nam trong thời đại đấu tranh giành độc lập.
Kim Anh (tổng hợp)



