Bài viết

HUỲNH THÚC KHÁNG – TẤM LÒNG VÀNG GIỮA NON SÔNG

Đà Nẵng11/05/2026Chi đoàn Huỳnh Thúc Kháng - Nguyễn Ngọc Trang (Đoàn xã Trà My - Chi đoàn Huỳnh Thúc Kháng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người đã dành trọn cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Họ sống thanh bạch, kiên cường và để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân. Một trong những người như thế chính là cụ Huỳnh Thúc Kháng – nhà chí sĩ yêu nước nổi tiếng của quê hương Quảng Nam, người đã dành cả đời để đấu tranh cho dân tộc Việt Nam.

Huỳnh Thúc Kháng sinh ngày 1 tháng 10 năm 1876 tại làng Thạnh Bình, nay thuộc xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, chăm học và có chí lớn. Được gia đình kỳ vọng, ông theo con đường học vấn Nho học và sớm bộc lộ tài năng xuất sắc.

Năm 1900, ông đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương và trở thành niềm tự hào của đất Quảng. Đến năm 1904, ông tiếp tục đỗ Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân. Nhưng thay vì chọn cuộc sống an nhàn nơi quan trường, Huỳnh Thúc Kháng lại chọn cho mình con đường đầy gian nan: cứu nước.

Đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đang áp đặt ách đô hộ lên đất nước ta, nhiều nhà yêu nước đã đứng lên tìm đường cứu dân cứu nước. Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Trần Quý Cáp trở thành những người lãnh đạo tiêu biểu của phong trào Duy Tân.

Phong trào ấy không chỉ kêu gọi chống thực dân, mà còn mong muốn thức tỉnh tinh thần dân tộc, mở mang dân trí và đổi mới đất nước.

Chính vì tinh thần yêu nước mạnh mẽ ấy, năm 1908, Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp bắt giam và đày ra Côn Đảo suốt 11 năm trời.

Mười một năm nơi “địa ngục trần gian” là mười một năm đầy cực khổ, xiềng xích và tra tấn. Nhưng không gì có thể khuất phục được ý chí của người chí sĩ ấy. Trong cảnh lao tù, ông vẫn giữ vững khí tiết và niềm tin vào tương lai dân tộc.

Trước lúc bị đày ra Côn Đảo, ông đã viết bài thơ nổi tiếng “Bài ca lưu biệt”. Những câu thơ như lời tự nhắn gửi chính mình và đồng chí:

“Dẫu đến lúc núi sụp, biển lồi, trời nghiêng, đất ngả,
Tấm lòng vàng, tạc đá vẫn chưa mòn.”

Đó không chỉ là thơ, mà còn là lời thề son sắt của một người yêu nước.

Năm 1919, Huỳnh Thúc Kháng được trả tự do. Dù đã trải qua bao năm tù đày, ông vẫn tiếp tục dấn thân vì dân vì nước. Năm 1926, ông tham gia Viện Dân biểu Trung Kỳ và được bầu làm Viện trưởng. Trong nghị trường, ông luôn đấu tranh mạnh mẽ để bảo vệ quyền lợi nhân dân và phản đối sự áp bức của thực dân Pháp.

Không lâu sau, ông từ chức để phản đối chính quyền bảo hộ.

Năm 1927, ông sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế. Tờ báo trở thành tiếng nói yêu nước có ảnh hưởng lớn lúc bấy giờ. Qua từng bài viết, Huỳnh Thúc Kháng kêu gọi lòng yêu nước, thức tỉnh tinh thần dân tộc và cổ vũ nhân dân đứng lên đấu tranh.

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ Liên hiệp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Dù tuổi đã cao, ông vẫn nhận lời vì cho rằng:
“Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc.”

Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau, Huỳnh Thúc Kháng được giao giữ chức Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Đó là minh chứng cho sự tin tưởng lớn lao mà Đảng, Nhà nước và nhân dân dành cho ông.

Ngày 21 tháng 4 năm 1947, cụ Huỳnh qua đời tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi trong lúc vẫn đang làm nhiệm vụ với đất nước. Sự ra đi của ông khiến toàn dân tiếc thương sâu sắc.

Trong thư vĩnh biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ca ngợi ông là người:

“Giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan.”

Đó cũng chính là phẩm chất cao đẹp của cụ Huỳnh suốt cả cuộc đời.

Ngày nay, tên tuổi Huỳnh Thúc Kháng được đặt cho nhiều trường học, tuyến đường trên khắp cả nước. Tại quê hương Đà Nẵng, người dân vẫn luôn tự hào khi nhắc đến người chí sĩ yêu nước kiên trung ấy.

Đối với em, Huỳnh Thúc Kháng không chỉ là một nhân vật lịch sử, mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần bất khuất và nhân cách cao đẹp. Cuộc đời ông giúp em hiểu rằng: yêu nước không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng sự hy sinh, lòng dũng cảm và trách nhiệm đối với dân tộc.

Dù thời gian đã trôi qua hơn một thế kỷ, nhưng “tấm lòng vàng” của cụ Huỳnh vẫn còn mãi với non sông đất nước Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn