Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

HUỲNH VĂN NGHỆ - Hồn thơ giữa lửa đạn Chiến khu Đ

Đồng Nai22/09/2026Xã Châu Thành (Đoàn xã Châu Thành)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Huỳnh Văn Nghệ sinh năm 1914 tại làng Tân Tịch, tổng Chánh Mỹ Hạ, tỉnh Biên Hòa, nay thuộc xã Thường Tân, TP Hồ Chí Minh. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống, ông sớm bộc lộ tư chất thông minh, học giỏi và được nhận học bổng vào học Trường Trung học Petrus Ký, nay là Trường THPT Lê Hồng Phong. Nhưng điều làm nên tên tuổi Huỳnh Văn Nghệ không chỉ là tài năng, mà còn là một cuộc đời gắn chặt với quê hương, đất nước và những năm tháng đấu tranh giành độc lập.

Từ năm 1932, ông đã tham gia các hoạt động cách mạng. Năm 1942, do bị lộ, Huỳnh Văn Nghệ phải sang Thái Lan, tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước. Đến năm 1944, ông trở về nước, bắt liên lạc với cách mạng và được giao nhiệm vụ xây dựng căn cứ Đất Cuốc ở Tân Uyên, Biên Hòa.

Trong những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông trực tiếp chỉ huy lực lượng giành chính quyền ở Biên Hòa. Khi Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Huỳnh Văn Nghệ có mặt ở nhiều chiến trường, từ Sài Gòn – Chợ Lớn, Thị Nghè đến miền Đông Nam Bộ. Ông trực tiếp chỉ huy lực lượng đốt Tòa bố, Sở cò, Bưu điện Biên Hòa, thu vũ khí của địch đưa về Tân Uyên xây dựng lực lượng.

Dưới sự tổ chức của ông, căn cứ Tân Uyên từng bước trở thành một căn cứ kháng chiến vững mạnh, vừa làm nhiệm vụ chiến đấu, vừa bảo đảm hậu cần, bảo vệ Khu bộ. Tân Uyên khi ấy trở thành một trong những căn cứ quan trọng của Nam Bộ. Có thể nói, nơi đây không chỉ là một vùng đất đứng chân của lực lượng kháng chiến, mà còn là nơi hun đúc ý chí và niềm tin vào ngày đất nước được độc lập.

Ngày 2-1-1946, Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy lực lượng tham gia trận phản công lớn vào thị xã Biên Hòa. Sau đó, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều trọng trách, trong đó có Khu bộ phó Khu 7, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 310. Đặc biệt, ông trực tiếp chỉ huy trận La Ngà – một trong những trận giao thông chiến lớn của Nam Bộ trong những năm đầu kháng chiến. Sau chiến thắng này, Trung đoàn 310 được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huân chương Chiến công hạng Hai, còn Huỳnh Văn Nghệ được Bác tặng một chiếc áo trấn thủ.

Năm 1951, hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa sáp nhập thành tỉnh Thủ Biên. Huỳnh Văn Nghệ giữ chức Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng, trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh bảo vệ Bộ tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ đóng tại Chiến khu Đ.

Chiến khu Đ cũng là nơi gắn bó sâu sắc với một Huỳnh Văn Nghệ khác – một người lính mang trong mình tâm hồn thi sĩ. Nếu trên chiến trường ông là người chỉ huy gan góc, quyết đoán, thì trong thơ ca, ông lại là người ghi lại rất chân thật những gì mình đã nhìn thấy, đã trải qua và đã yêu thương.

Nhắc đến Huỳnh Văn Nghệ, người đọc khó quên những bài thơ như “Tiễn bạn về Bắc”, “Về Bắc”, “Nhớ Bắc”. Tứ thơ “Tiễn bạn về Bắc” bắt nguồn từ một buổi chiều ở sân ga Sài Gòn năm 1940. Được chọn đi Hà Nội bằng tàu hỏa nhưng ông đã nhường suất của mình cho một người bạn. Khi đứng tiễn bạn, nhìn đoàn tàu từ từ khuất bóng, nỗi nhớ quê hương, đất nước bỗng dâng lên thành những câu thơ:

“Ai đi về Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.

Chỉ vài câu thơ nhưng chứa đựng cả nỗi nhớ non sông và tình cảm sâu nặng của một người con miền Nam hướng về đất Bắc. Tứ thơ ấy tiếp tục theo ông trong những năm tháng sau này, trở thành một mạch nguồn xuyên suốt trong thơ Huỳnh Văn Nghệ.

Nhưng có lẽ, nơi thơ ông thực sự hòa vào cuộc sống chính là Chiến khu Đ. Ở đó có những người lính ra trận, những người mẹ, người chị, những đứa trẻ và cả những người dân bình thường cùng sống, chiến đấu và hy sinh cho quê hương. Huỳnh Văn Nghệ đã nhìn thấy tất cả và ghi lại bằng những câu thơ mộc mạc mà lay động.

Những ngày đầu kháng chiến, thơ ông vẫn giữ được vẻ tươi sáng, lãng mạn:

“Phấp phới cờ bay với gió xuân
Quân ca từng khúc, nhịp xa gần
Từng đoàn chiến sĩ đi ra trận
Có bướm, chim đưa tận cuối rừng”.

Đó là mùa xuân của những người đang chiến đấu giữa rừng, thiếu thốn nhưng không thiếu niềm tin. Càng về sau, chiến tranh càng khốc liệt, mất mát càng nhiều, nhưng trong thơ Huỳnh Văn Nghệ vẫn sáng lên tinh thần không khuất phục. Mất đất, mất nhà, mất những dòng sông thân thuộc, nhưng ý chí của con người thì không thể bị đánh mất:

“Mất bờ sông là mất một nửa chiến khu...
Nhưng quân thù vẫn sợ lòng chiến khu
Cờ đỏ vẫn phất cao cành cổ thụ”.

Ông cũng đưa vào thơ những câu chuyện rất đời thường mà khi đọc lên, người ta có thể hình dung cả một thời kỳ lịch sử. Trong “Mẹ buồn”, chỉ bằng cuộc trò chuyện ngắn giữa người mẹ và đứa con, Huỳnh Văn Nghệ đã khắc họa sự hy sinh của người dân trong những ngày tiêu thổ kháng chiến:

Thấy mẹ buồn, con hỏi:
“Má tiếc gì má ơi!
Nhà mình con đốt rồi
Kẻo mai thành bót giặc”.

Một ngôi nhà bị đốt đi, nhưng phía sau đó là một tình yêu lớn hơn: tình yêu đất nước và quyết tâm không để quê hương rơi vào tay giặc.

Đặc biệt, “Tiếng hát giữa rừng” là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách Huỳnh Văn Nghệ. Bài thơ được viết từ một câu chuyện có thật ở quân y viện Đất Cuốc. Người lính Bùi Xuân Tảo bị thương trong trận đánh vào thị xã Biên Hòa đầu tháng 1-1946. Vì thuốc mê khan hiếm, bác sĩ bảo anh hát để quên đi cơn đau trong lúc phẫu thuật. Anh đã hát “Tiến quân ca”. Đúng lúc ấy, Huỳnh Văn Nghệ cưỡi ngựa đi ngang và chứng kiến cảnh tượng ấy.

Bác sĩ vừa cưa vừa khóc
Chị cứu thương mắt cũng đỏ hoe
Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre...

Giữa tiếng cưa, tiếng khóc và những giọt máu, tiếng hát của người thương binh vẫn vang lên. Đó không chỉ là tiếng hát của một con người, mà như tiếng nói của cả một thế hệ đã đặt tình yêu Tổ quốc lên trên nỗi đau của chính mình.

Huỳnh Văn Nghệ là như thế. Ông vừa là người chiến sĩ trực tiếp cầm súng, vừa là người nghệ sĩ biết lắng nghe nhịp đập của cuộc sống. Thơ ông không cầu kỳ, không xa cách mà gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân. Chính vì từng sống giữa chiến trường, từng chứng kiến những mất mát và hy sinh, ông đã viết về chiến tranh bằng những cảm xúc chân thật nhất.

Những câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ vì thế không chỉ kể chuyện chiến đấu. Đó còn là ký ức về một thế hệ đã sống, chiến đấu và hy sinh trong những năm tháng đất nước gian lao. Ông xứng đáng được gọi là người viết sử bằng thơ về Chiến khu Đ, bởi qua thơ ông, một thời kỳ lịch sử hiện lên vừa dữ dội, vừa gần gũi, có máu, có nước mắt nhưng cũng đầy niềm tin và tình yêu quê hương.

Năm 1953, Huỳnh Văn Nghệ được cử ra miền Bắc học tập và công tác. Gần 12 năm sau, năm 1965, ông trở lại miền Nam, đảm nhiệm công tác tại Trung ương Cục miền Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp.

Huỳnh Văn Nghệ qua đời, nhưng hình ảnh người chiến sĩ – thi sĩ vẫn còn ở lại. Ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật năm 2007 và được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2010. Tên ông được ghi trong nhiều bộ từ điển danh nhân, đồng thời được đặt cho trường học, đường phố ở TP Hồ Chí Minh.

Có lẽ, điều khiến Huỳnh Văn Nghệ sống mãi trong lòng người đọc không chỉ là những chức vụ hay phần thưởng ông từng nhận, mà là những câu thơ đã giữ lại một phần ký ức của dân tộc. Qua thơ ông, ta thấy những người lính đi giữa rừng, những người mẹ chấp nhận đốt nhà, những thương binh cắn răng chịu đau và hát vang giữa tiếng cưa xương. Đó là một thế hệ đã đi qua chiến tranh bằng lòng yêu nước, niềm tin và sự hy sinh.

Và hôm nay, khi đất nước sống trong hòa bình, đọc lại những câu thơ ấy, ta càng hiểu rằng cuộc sống bình yên mình đang có được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và máu xương của cha ông. Huỳnh Văn Nghệ đã dùng cuộc đời mình để chiến đấu và dùng thơ để lưu giữ những năm tháng ấy. Những vần thơ của ông vì thế không chỉ thuộc về quá khứ, mà vẫn là ngọn lửa nhắc mỗi thế hệ hôm nay biết trân trọng độc lập, tự do và quê hương mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn