HUỲNH VĂN NGHỆ – NGƯỜI CHÉP SỬ CHIẾN KHU Đ BẰNG THƠ
"Thi tướng" Huỳnh Văn Nghệ (1914–1977), quê ở Bình Dương, là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, vị chỉ huy quân sự tài ba và là một nhà thơ tài hoa của miền Đông Nam Bộ. Ông là người có công lớn trong việc xây dựng Chiến khu Đ lịch sử, từng đảm nhiệm các chức vụ Khu bộ trưởng Khu 7, Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp, đồng thời có đóng góp lớn trong việc sáng tạo lối đánh tháp canh vang dội. Không chỉ mưu trí, dũng cảm trên chiến trường, ông còn đi vào lòng người với tâm hồn thi sĩ qua những câu thơ bất hủ như "Từ độ mang gươm đi mở cõi / Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long". Cuộc đời vừa cầm súng bảo vệ Tổ quốc vừa cầm bút lưu giữ hồn thiêng sông núi của ông là bài học sư phạm sâu sắc cho thế hệ trẻ: tài năng chỉ thực sự tỏa sáng khi gắn liền với tình yêu quê hương, nhắc nhở tuổi trẻ hôm nay sống có lý tưởng, biết biến tri thức thành hành động và luôn trân trọng, gìn giữ ký ức lịch sử dân tộc.
Huỳnh Văn Nghệ sinh ngày 2/2/1914 tại làng Tân Tịch, tổng Chánh Mỹ hạ, tỉnh Biên Hòa, nay thuộc khu vực Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Sinh ra trên vùng đất giàu truyền thống yêu nước của miền Đông Nam Bộ, từ thuở thiếu thời ông đã sớm tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ. Sau khi học ở quê rồi học tại trường Pétrus Ký ở Sài Gòn, ông làm việc tại Sở Hỏa xa nhưng không chọn một cuộc đời bình lặng. Năm 1932, Huỳnh Văn Nghệ tham gia phong trào Đông Dương Đại hội, được giác ngộ cách mạng và bước vào con đường đấu tranh vì độc lập dân tộc. Những năm 1942–1945, ông hoạt động cách mạng tại Thái Lan, tham gia xây dựng cơ sở, đồng thời làm báo và sáng tác văn học. (Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai)
Tháng Tám năm 1945, Huỳnh Văn Nghệ trở về tham gia giành chính quyền ở Sài Gòn và Biên Hòa. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Nam Bộ, ông trở thành một trong những người có công lớn trong việc xây dựng và bảo vệ căn cứ kháng chiến ở miền Đông. Sau khi Pháp chiếm Biên Hòa, ông đưa lực lượng về vùng rừng Tân Uyên, từng bước xây dựng căn cứ lâu dài. Từ hạt nhân ban đầu, Chiến khu Đ dần trở thành một căn cứ cách mạng quan trọng của miền Đông Nam Bộ. Huỳnh Văn Nghệ lần lượt đảm nhiệm các cương vị Chỉ huy trưởng Vệ quốc đoàn Biên Hòa, Chi đội trưởng Chi đội 10, Tỉnh đội trưởng và Khu bộ trưởng Khu 7. Ông là một trong những người giữ trọng trách cao nhất về quân sự tại Chiến khu Đ trong những năm kháng chiến chống Pháp. (Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai)
Trong chiến đấu, Huỳnh Văn Nghệ không chỉ là người chỉ huy gan dạ mà còn có tư duy quân sự sáng tạo. Năm 1949, từ cách đánh tháp canh của một chiến sĩ du kích, ông cùng cán bộ tham mưu nghiên cứu, tổ chức trận đánh đầu tiên, tiêu diệt nhiều tháp canh của địch trong một đêm. Kinh nghiệm ấy sau đó được phổ biến rộng rãi ở Nam Bộ, góp phần tháo gỡ một khó khăn lớn về chiến thuật của lực lượng kháng chiến lúc bấy giờ. Tên tuổi Huỳnh Văn Nghệ vì thế gắn liền với những năm tháng chiến đấu gian khổ nhưng đầy khí phách của quân dân miền Đông. (Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai)
Nhưng nếu chỉ nhắc Huỳnh Văn Nghệ như một vị tướng thì chưa đủ. Ông còn là một nhà thơ – chiến sĩ, người dùng câu chữ để lưu giữ ký ức chiến tranh và tâm hồn của cả một vùng đất. Những năm tháng sống, chiến đấu giữa rừng già đã trở thành nguồn cảm hứng để ông viết về đồng đội, nhân dân, những cuộc hành quân và những ngày tháng gian khổ của Chiến khu Đ. Thơ ông không xa rời cuộc sống mà được sinh ra từ chính cuộc sống chiến đấu. Hai câu thơ “Từ độ mang gươm đi mở cõi / Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” đã trở thành những câu thơ tiêu biểu, thể hiện tình yêu quê hương miền Nam hòa quyện với ý thức sâu sắc về cội nguồn dân tộc. Người đời gọi ông là “Thi tướng” cũng bởi ở Huỳnh Văn Nghệ, chất người lính và tâm hồn thi sĩ luôn song hành. (Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai)
Sau năm 1954, Huỳnh Văn Nghệ tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách trong quân đội và ngành lâm nghiệp. Từ năm 1965, ông trở lại chiến trường miền Nam, công tác tại Trung ương Cục miền Nam, tiếp tục góp sức cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sau ngày đất nước thống nhất, ông giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp. Ông qua đời ngày 5/3/1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2005, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật; năm 2010 được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. (Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai)
Huỳnh Văn Nghệ để lại một cuộc đời đặc biệt: cầm súng khi Tổ quốc cần, cầm bút khi lịch sử cần được ghi nhớ. Ông góp phần dựng nên một Chiến khu Đ bằng ý chí chiến đấu, rồi lại lưu giữ hình ảnh Chiến khu Đ bằng thơ. Từ cuộc đời ấy, thế hệ trẻ hôm nay có thể nhận ra một bài học giản dị mà sâu sắc: tài năng chỉ thật sự có ý nghĩa khi được đặt trong tình yêu quê hương và trách nhiệm với cộng đồng. Sống có lý tưởng, biết biến tri thức thành hành động và biết gìn giữ ký ức lịch sử chính là cách mỗi người trẻ viết tiếp những trang đẹp của đất nước.



