Hy sinh nơi chiến trường – bài học từ máu và nước mắt
Đoạn văn khắc họa quá trình thực tập chiến đấu của học viên đặc công tại Quảng Nam, từ những chiến thắng ban đầu đến sự mất mát đau thương khi người thầy – anh Liêm – hy sinh. Biến cố này không chỉ thể hiện sự khốc liệt của chiến tranh mà còn để lại bài học sâu sắc về kỷ luật, kinh nghiệm chiến đấu và trách nhiệm. Qua đó, làm nổi bật tình đồng chí thiêng liêng, lòng biết ơn và quyết tâm tiếp nối con đường chiến đấu của những người còn sống.
Thời gian đi thật nhanh, lớp học kết thúc trong lúc mọi người đều muốn học thêm, học nữa để có nhiều vốn liếng về hoạt động. Cả học viên khóa Một và khóa Hai chúng tôi được lệnh hành quân ra Quảng Nam thực tập (lúc này địch mới chỉ chiếm đóng một phần của tỉnh Quảng Nam, từ huyện Điện Bàn trở ra)
Hướng dẫn đoàn học sinh đi thực tập là ba đồng chí giáo viên đặc công.
Tháng 9 năm 1952 đoàn học sinh thực tập ra tới Quảng Nam, được Phòng quân báo Bộ tư lệnh Liên khu V cung cấp tình hình các đồn bót địch (có cả sơ đồ, bản đồ chỉ dẫn cụ thể) đóng ở hai huyện Điện Bàn, Hòa Vang và một phần huyện Duy Xuyên, Đại Lộc. Phòng tham mưu Bộ tự lệnh Liên khu V trao đổi với đoàn về hướng hoạt động, còn thực tập chiến đấu ở đâu, sử dụng lực lượng và biện pháp thực hành chiến đấu như thế nào thì do Ban giáo viên của trường chịu trách nhiệm. Ban giáo viên đồng thời là ban chỉ huy thực tập - chiến đấu suốt quá trình các đoàn học sinh có mặt ở tỉnh Quảng Nam.
Kế hoạch thực tập - chiến đấu được chia làm ba đợt. Đợt một, đánh bót Trường Giảng, Gò ông Tự nằm trên tỉnh lộ 100 từ Vĩnh Điện đi Ái Nghĩa (Đại Lộc). Đây là hai bót thuộc loại cứng bảo vệ vành ngoài phía nam của căn cứ Đà Nẵng. Anh Nguyễn Hữu Liêm, trưởng ban giáo viên trực tiếp hướng dẫn, chỉ huy đoàn học sinh Khánh Hòa chúng tôi thực tập đánh đồn Trường Giảng. Nội đồn có bốn lô cốt xây dựng bằng gạch, xi măng, bao quanh là tường thành, rào kẽm gai và rào tre dăng thành nhiều lóp. Là trận thực tập đầu tiên, để gây ấn tượng mạnh mẽ đối với học viên, nên anh Liêm cho chuẩn bị thật chu đáo; anh trực tiếp dẫn chúng tôi đi trinh sát thật tỉ mỉ cụ thể, qua trinh sát rèn luyện luôn kỹ thuật bò, trườn và ngụy trang. Trên cơ sở đó, anh cùng chúng tôi trở về bàn kế hoạch đánh sát với thực tế. Trận chiến đấu đã thu được thắng lợi giòn giã, mặc dù ở một sô vị trí địch chống trả quyết liệt, nhưng toàn bộ đồn bót bị ta tiêu diệt gọn, 50 tên địch trong đồn đã bị diệt và bắt sống.
Kết thúc đợt một, đoàn học sinh thực tập - chiến đấu đã san bằng đồn Cầu Đen, Gò ông Tự, Trường Giảng, Núi Chiêng.
Trường Giảng bị san bằng gây sôi động cả một vùng. Địch ờ toàn tỉnh Quảng Nam được lệnh báo động, chúng bắt đầu sống trong tâm trạng hoang mang, kể cả bọn đóng sâu trong Đà Nẵng cũng nơm nớp lo âu mỗi khi đêm về. Còn nhân dân thì sung sướng, càng tăng thêm niềm tin vào kháng chiến, phong trào có thêm chỗ dựa phát triển càng mạnh, bọn ác ôn xuống thế, nhiều tên tìm cách trốn tránh về các đồn bót vùng sâu.
Đợt hai, địa bàn thực tập là vùng sâu, nơi tiếp giáp giữa hai huyện Hòa Vang và bắc huyện Điện Bàn, nhằm gây thối động mạnh vào trung tâm thành phố Đà Nẵng. Đoàn học sinh tỉnh Khánh Hòa được giao nhiệm vụ diệt đồn Dương Hỏa thuộc xã Hòa Tiến, Hòa Vang, cách Đà Nẵng mười cây số về phía tây- nam. Sang đợt hoạt động này, tỉnh đội Quảng Nam có cử một số trinh sát viên của tỉnh này đi cùng với đoàn để học tập ngay trong thực tế.
Vẫn là trưởng ban giáo viên Nguyễn Hữu Liêm chỉ huy chúng tôi thực tập - chiến đấu đánh đồn này. Anh Liêm, tôi và một trinh sát viên tỉnh đội Quảng Nam gửi sang học tập làm nhiệm vụ trinh sát trước.
Đêm tối trời, chúng tôi vượt qua một hệ thống dày đặc đồn bót địch một cách tương đối thuận lợi vì có đồng chí trinh sát cùng đi quê ở vùng Điện Bàn dẫn đường. Vào đến cơ sở tập kết cách đồn địch khoảng một cây số thì dừng lại để chuẩn bị. Ba chúng tôi vào một nhà cơ sở, có hầm bí mật đặt ngay trong buồng. Chủ nhà là hai vợ chồng trạc 45 tuổi, rất vồn vã, xởi lởi nhưng cũng rất trầm tĩnh, chín chắn và cảnh giác. Ở một địa điểm sâu trong vùng địch hậu, nhìn ra bốn hướng đâu cũng có địch: đằng sau là cứ điểm Bồ Bồ với trận địa pháo đã được căn sẵn, động đâu là đạn bay tới ngay tức thì, trước mặt là căn cứ Đà Nẵng, bên phải là cầu Đỏ với hệ thống đồn bót khá vững. Vậy mà chúng tôi vẫn sống rất thoải mái, bởi được sự đùm bọc, che chở của thế trận chiến tranh nhân dân.
Cả ngày hôm đó, ba chúng tôi thay nhau giả danh đi làm đồng để nghiên cứu hướng tiềm nhập đêm nay. Tôi hoàn toàn nhất trí với anh Liêm là chọn hướng bên phải cổng đồn. Ở đây phải qua một vạt ruộng lầy và khi vào mép đồn là có dốc, sát ngay nơi địch thường sơ hở, chủ quan. Một ngày nằm chờ thật dài. Rồi thời gian hành động đã đến. Khoảng chín giờ tối, chúng tôi tạm biệt hai vợ chồng gia đình cơ sở để đi làm nhiệm vụ. Cả ba đều quần ngắn, áo cộc tay và đầu cắt trọc, dáng điệu như ba vị sư hành hương về phía Ngũ Hành Sơn1, cũng lầm lũi, trầm tư, trên đường đi tới đích. Anh Liêm nói vui: ‘Tụi mình là sư phá giới. Sư gì mà ăn bánh tráng cuốn với cá nục chấm mắm nêm không biết chán”. Chả là biết chúng tôi đêm nay đi làm nhiệm vụ, chủ nhà đã sửa soạn bữa chiêu đãi khách bằng món ăn quen thuộc của Quảng Nam. Suốt bữa liên hoan, chủ nhà cứ thanh minh rằng dây chỉ là cây nhà lá vườn, rằng món cá nục do cô em vợ từ cửa Đại, Hội An, khi sáng lên chơi mang cho, cá ở đây rẻ lắm, chẳng đáng là bao. Còn chúng tôi chỉ biết cám ơn mỗi khi anh thanh minh và tự nhủ: Phải làm sao cho xứng đáng với lòng tin yêu và đùm bọc của nhân dân.
Khoảng 19 giờ chúng tôi vào vị trí triển khai. Đêm yên tĩnh, nhưng gió đông - bắc từ hướng biển thổi vào mạnh dần, gây lạnh. Đội hình triển khai trinh sát khi tiềm nhập: anh Liêm chỉ huy đi trước, đồng chí trinh sát viên Quảng Nam đi giữa và sau cùng là tôi. Anh Liêm bò vừa làm động tác mẫu cho đồng chí trinh sát của tỉnh đội Quảng Nam làm theo. Chúng tôi trườn rất nhẹ, trên mặt ruộng nước, theo đúng kỹ thuật đã học, không gây ra một tiếng động nào. Vào đến mép đồn, dưới chân dốc, ngồi nghỉ để lấy lại sức. Gió từ biển thổi vào càng mạnh vậy mà chẳng ai thấy rét. Định hướng xong, chúng tôi bắt đầu giai đoạn hai - trườn thấp, cắt rào, gỡ mìn. Tất cả đều trôi chảy, lợi dụng lúc địch đổi gác, ba chúng tôi càng trườn nhanh. Cậu trinh sát của tỉnh đội Quảng Nam phấn khởi vì vào tới nội đồn mà địch không hay biết, quay sang ghé sát vào tai tôi:
- Ăn rồi, anh Tư!
Tôi khẽ đập vào vai cậu hai đập - ký hiệu nhắc nhở im lặng, cần thận, không chủ quan.
Làm xong nhiệm vụ, theo hiệu lệnh của anh Liêm chúng tôi quay ra. Vừa trườn bò vừa lấp lối để nguyên như cũ, sáng ra địch khó phát hiện. Công việc trinh sát như vậy là đã hoàn tất, tôi đang tự nhủ: một Trường Giảng thứ hai sẽ diễn ra trong đêm mai, thì một tiếng nổ xé trời xảy ra ở mép rào phía ngoài. Liền đó súng trong đồn bắn ra như đổ đạn vào hướng chúng tôi. Đêm tối không ai nhìn thấy ai cả, vả lại mọi người đang tìm cách lợi dụng địa hình để tránh đạn địch. Thế là tổ trinh sát chúng tôi lạc nhau, mất hướng, tôi đành cứ luẩn quẩn quanh đó; trời sáng dần, đồn địch đã hiện lên lờ mờ với lá cờ ba sắc treo ủ rũ như nhà có đám.
Tình thế thật nguy hiểm. Anh Hai Liêm ở đâu, cậu trinh sát cùng đi có việc gì không, chuyện gì đã xảy ra đêm qua? Tôi tự hỏi mình mà không sao trả lời được. Lúc này cần phải tự mình bảo toàn mình đã, không để cho địch phát hiện do sơ hở của mình gây nên. Đó là điều anh Hai Liêm căn dặn khi chúng tôi nghe giảng ở lóp.
Ra khỏi đồn nhưng đứng dậy bây giờ thì lính gác trong đồn sẽ phát hiện và vây bắt. Chỉ còn cách là nằm lại đây, tìm cách giấu mình, chờ đêm tối hãy hay. Tôi trườn nhanh xuống con lạch gần đó, ngâm mình dưới nước, mặt che kín, chỉ hở mũi để thở. Trời sáng rõ, mặt trời cao dần, thỉnh thoảng tôi khẽ nghển đầu đưa mắt quan sát và nghe ngóng động tĩnh. Mặt trời lên đến đỉnh đầu, rọi thẳng vào mặt, gây chói khó chịu, lúc lúc lại phải nhắm mắt để chống chói. Nhưng vẫn không thấy có sự biến gì. Chỉ thấy không còn tiếng thúc trâu của bà con đi làm đồng nữa. Trưa rồi, lúc này là giờ nghỉ. Tuy yên tâm nhưng vẫn lo, không biết tình hình sẽ ra sao!
Khoảng xế chiều thoáng thấy có bóng người, tôi vội phủ kín mặt và nằm im. Một lúc lâu, khoảng mười phút tôi lại ngẩng đầu đưa mắt nhìn, vẫn thấy có người. Lần này nhìn kỹ thì đó là một phụ nữ tay xách giỏ đi qua đi lại, không phải bắt cá mà đi tìm một cái gì. Hay là người của ta? - Tôi tự hỏi như thế nhưng lại tự nhủ: phải cảnh giác, biết đâu là địch giả dạng để săn lùng bắt ta! Người phụ nữ trạc 30 tuổi cứ đi lại quanh chỗ tôi nằm. Tôi ngẩng đầu quan sát kỹ hơn, thấy dáng vẻ bồn chồn tìm kiếm chứ không phải là nhòm ngó săn lùng.
Tôi đứng dậy, sửa sang lại người và hắng ho như gọi chị.
Thấy có tiếng người, chị quay lại, nét đăm chiêu lo lắng biến mất trên khuôn mặt rám nắng, nhưng rồi chị lại rụt rè cảnh giác, vờ nhìn xuống vạt ruộng tiếp tục tìm cá.
Đoán đúng là người minh, nhưng tôi vẫn thăm dò:
- Chị đi đâu mà gần tối chưa về, không sợ địch à?
Và chị cũng vậy. Nhìn tôi, chị biết là không phải địch nhưng vẫn dò thử:
- Anh ở gần đây chắc biết vụ động đồn hôm qua?
- Có, tôi có biết, nghe đâu có hai anh bộ đội Việt Minh hình như...
Chị đến gần tôi, hết dò thử mà hỏi thẳng:
- Còn anh, có phải cùng...
- Dạ, phải, tôi đi cùng với hai anh ấy.
Chị thở phào, với khuôn mặt thương cảm và trách nhiệm, chị như thanh minh:
- Thế mà tôi cứ đi tìm hoài suốt buổi, hết cả hồn vía!
Nói xong, chị đưa vội cho tôi nắm cơm đựng trong giỏ và dặn:
- Anh cứ ngồi đây, nhung vẫn phải giấu mình cho kín, sẩm tối sẽ có người đến đón đưa lên núi.
Đêm hôm đổ khi về lại trên núi, tôi mới hiểu được tường tận cái sự việc không may xảy ra đêm qua. Số là khi trở ra, cậu trinh sát - một học viên mới của chúng tôi lần đầu đi tiềm nhập, chưa có kinh nghiệm, khi vào thì cẩn thận nhưng khi ra có phần chủ quan, đã đạp phải mìn và hy sinh ngay khi mìn nổ. Anh Hai Liêm bị thương vì mảnh mìn. Anh cố lết ra nhưng vết thương quá nặng, máu ra nhiều, cũng hy sinh tại chỗ. Sáng hôm sau, bọn địch trong đồn kéo ra, nhìn thấy xác anh vẫn nằm trong tư thế đầu hướng về phía đồn địch, khẩu súng Lucke vẫn đeo bên hông (khẩu súng lục này do Bộ chỉ huy Liên khu Bảy - Đông Nam Bộ tặng anh trước lúc lên đường ra đây làm nhiệm vụ). Đoán đây là một chỉ huy của bộ đội Việt Minh, tên đồn trưởng cúi đầu mặc niệm và cho gọi dân quanh đó mang thi hài anh chôn cất. Nhân dân thương xót khi được tin anh hy sinh, dựa vào cái thế “hợp pháp” của tên đồn trưởng, đã thành lập một ban tang lễ. Mọi việc diễn ra nhanh gọn, tang lễ được thực hiện trong không khí trang nghiêm mà tình cảm, đông đúc nhưng lặng lẽ, tỏ lòng thương tiếc, kính phục một chiến sĩ đặc công hết lòng vì dân, không sợ hy sinh trong cuộc đụng độ với quân thù.
Anh Liêm, người thầy đầu tiên của tôi không còn nữa! Chính anh đã mang lại trong tôi một kỷ niệm sâu sắc, thức tình trong tôi một nhận thức thế nào là phong cách hoạt động của chiến sĩ đặc công. Sự thành đạt hôm nay của tồi đều có phần công sức của anh.
Anh ngã xuống như một chiến sĩ vô danh? - Không, anh không phải là chiến sĩ vô danh. Chúng tôi - những người học trò của anh, những người đồng đội, đồng chí của anh sẽ mãi mải không quên anh. Binh chủng Đặc công đã ghi tên anh vào trang sử vàng của mình - một trong sô những người có cồng đầu tiên xây dựng nền móng của binh chủng.
Đau thương và mất mát - một thứ mất mát không sao bù đắp được của tình đồng chí, tình chiến đấu! Cả ngày hôm sau tôi và anh Nguyễn Văn Đôi sống trong tâm trạng buồn lắng kèm theo cả ân hận nữa. Anh Đôi thỉnh thoảng đưa tay lau nước mắt và giọng ngậm ngùi:
"... Anh Liêm hy sinh! Cái tin đau nhói của tình đồng đội gắn bó với nhau từ chiến trường Đông Nam Bộ, qua Phan Thiết, Phú Yên ra đến đây... Sau này về trong ấy biết nói với người thân của ảnh như thế nào. Đêm qua tôi trằn trọc không sao ngủ được. Pháo ở trận địa núi Bồ Bồ bắn cầm canh, pháo sáng thỉnh thoảng lại vút lên từ đồn Dương Hỏa khiến tôi càng nhức nhối, căm thù. Tôi cứ nói thầm với mình trong đêm rằng - hứa trước vong linh anh Liêm: Anh Hai tha lỗi cho em, em sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để trả thù cho anh...”


