Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

KỂ CHUYỆN LÍNH NGÀY XƯA: CHUYẾN ĐI SINH TỬ.

Lào Cai01/06/2026Đoàn xã Việt Hồng (Đoàn xã Việt Hồng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

KỂ CHUYỆN LÍNH NGÀY XƯA: CHUYẾN ĐI SINH TỬ.

Chiều vừa tắt nắng, thằng Cang hơ hãi chạy về báo tin: anh Túc chết rồi! Anh Túc là quyền đại đội trưởng. Huấn luyện nghiệp vụ cho tân binh được mấy ngày anh đi công tác với một số anh em trong đại đội. Nghe nói bị địch phục, mấy ngày sau lên lấy xác thì quạ đã tha mất đôi mắt của anh. Cả đại đội bàng hoàng. Đi lấy cơm tôi thấy mặt tay Thành quản lý với thằng Vũ anh nuôi buồn xo. Mọi ngày thằng Vũ anh nuôi vừa chia cơm vừa tếu táo: "Người ta đi lính mang lon. Còn tôi đi lính mang xoong với nồi", hôm nay nó múc đồ ăn mà chẳng màng đong đếm, như chia cho có lệ. Toán lính cũ đi công tác về, có anh Nghị, anh Văn, anh Á. Quần áo ai nấy rách bươm, phải ngồi khâu, vá lại mấy buổi mới có cái mà mặc. Bọn tôi lính mới chưa đi luồn sâu nên áo, quần còn nguyên. Cánh lính cũ đi nhiều nên đồ mặc te tua xác mướp. Có anh phải mặc đổi phía quần sau ít rách hơn ra phía trước mà chúng tôi vẫn tếu táo mặc theo kiểu "ưu tiên cho tuyến trước". Cảnh lính ngồi bìa rừng vụng về với từng mũi chỉ đường kim mới thấy đắng đót làm sao. Anh Á bị lác cả người thường ngồi co ro một mình trước lán đợi chút nắng hiếm hoi buổi sáng mùa đông để hong khô mặt da bị bong tróc. Đó là khoảng bình yên lặng lẽ cuối cùng trước khi tôi lên đường công tác. Mọi tư trang đều phải để lại đơn vị. Đứa nào cũng ngậm ngùi khi phải ghi vào lý lịch trích ngang: khi cần báo tin cho ai. Tôi lên đường công tác với thằng Cử, Diêu, Ngọc "lùn", Hay, Hưng "già", anh Bình, anh Sơn. Trực chỉ Paillin chuyến ấy còn những anh lính cũ như anh Cảnh "nghênh", anh Tuấn, anh Thanh (Bình Định), anh Ngọc (Khánh Hoà) cùng anh Duyên đại đội phó. Lướt qua những nông trường cam bỏ hoang mà chúng tôi vẫn thường mang bao tải vào hái trái cải thiện, xe ì ạch vượt mấy cái ngầm rồi băng qua những vườn cà phê bạt ngàn. Cây cà phê trải dài ngút mắt. Thằng lính xuất thân từ quê nghèo cày lên sỏi đá như tôi choáng ngợp trước trùng điệp cây trái trước mặt. Những mảnh ruộng manh mún, những thửa vườn cằn khô như con người miền Trung thật tương phản với cảnh vật đang trôi qua trong tầm mắt tôi. Chúng tôi xuống xe ở đầu thị trấn. Paillin, xứ sở của hồng ngọc nằm yên như chưa hề có chiến tranh đi qua. Những căn nhà tầng nhỏ xinh yên bình nếp mình bên con đường đất đỏ. Cánh lính trung đoàn 812 đang tất bật đi lại trên đường. Càng đi ra ngoại ô, không khí chiến tranh càng thật gần. Xe tăng, những nòng pháo trùm bạt vươn cao tập kết hai bên đường. Lính tăng, lính pháo ngồi tràn hai bên vệ đường, miệng phì phèo những điếu thuốc thơm Samit hoặc Gold City (lính gọi là 85 nòng dài) bên những sòng bài tiến lên. Tiếng văng tục; mùi khói thuốc lá, tiếng cười chào gặp gỡ đồng hương, tất cả quyện lại đậm đặc như những phút giây cuối cùng của những người lính ngập ngừng đi vào cuộc chiến. Chúng tôi trú quân bên bìa vườn chuối, cạnh con suối với dòng nước trong veo có thể nhìn thấy những viên đá cuội nhẵn thín ở đáy. Tôi với thằng Diêu căng tăng ở chung. Khi thằng Vũ anh nuôi nổi lửa chuẩn bị cơm chiều thì mấy thằng lính trẻ ùa xuống suối gột rửa bụi đường sau một ngày lấm lem bùn đất. Thằng Diêu mặc chiếc quần xà lỏn màu trắng nên khi từ suối bước lên "chim, cò" hiện nguyên hình, tụi tôi được một trận cười nghiêng ngã. Nó lấy tay che vội "ngã ba sung sướng", chạy như ma đuổi để thay quần. Sáng sớm sương chưa tan bọn tôi lên đường.Thằng Vũ chuẩn bị cơm nắm ăn cả ngày với muối. Chúng tôi mang theo gạo sấy với lấy nước cho đầy mấy bi đông cho cả tuần đi đường. Chín người chia làm ba tổ với anh Duyên đại đội phó nữa là mười. Tổ ba người được chia theo dạng bia...kèm mồi. Mà mồi nhiều hơn bia! Cứ một lính cũ thì hai lính mới. Tôi với thằng Cử chung tổ với anh Thanh lính 78. Mỗi tổ thay phiên cầm la bàn cắt góc đã định trước đi vào đất Thái Lan vì cứ Pôn Pốt nằm sâu bên kia biên giới. Lần đầu tiên cầm la bàn đi đầu tôi hồi hộp đến nỗi run tay. Phía trước là những khoảng không vô định, là những đồi núi chập chùng với những bãi mìn rip, mìn KP2 mà địch giăng mắc thiên la địa võng. Phía trước là những họng súng đen ngòm vô tình của lính Pôn Pốt chờ chực mà thằng Cử lại cách xa những...năm mét phía sau. Lên những ngọn đồi trọc đất đỏ còn hằn dấu giày địch trên đất mới rợi tôi khẽ rùng mình. Nhưng phải tiếp tục đi vì không còn con đường khác. Cảm giác sợ hãi ban đầu rồi cũng qua khi chúng tôi luồn sâu vào đất Thái. Cắt góc băng rừng chỉn chu hơn, cánh lính cũ cũng bớt rầy rà hơn với những thằng lính mới. Đêm tối chúng tôi theo tổ cột võng nằm co cụm lại sau khi cắt người gác. Những giấc ngủ ở rừng thôi chập chờn sau cả ngày mệt mỏi băng rừng. Ve rừng vô số kể, chỉ nhỏ bằng hạt đậu nhưng chích đau thấu trời xanh. Không biết chúng bám vào người lúc nào mà chỉ cần nghe nhói cả người là tôi biết đã dính ve. Giữa hai chặng đi chúng tôi được giải lao. Ve rừng bu đầy trong nách, bên trong "vùng cấm địa" nên phải cởi hé áo quần, tôi với thằng Cử thay phiên bắt ve cho nhau. Lũ ve ngoan cố, rứt được thân nhưng càng của chúng còn bám chặt vào da khiến tôi buốt cả người. Trên đường về chúng tôi gặp địch. Xế chiều ở rừng thật tĩnh mịch, có thể nghe cả tiếng cựa mình của những con thú đang rình mồi, tiếng "tác" đâu đó của những con mang đang đi xào xạc trên những lá rừng khô cong ngập lối.Luồn rừng theo kiểu ngậm tăm, chỉ thật cần thiết chúng tôi mới dừng lại ra hiệu để trao đổi.Đang đi đầu anh Cảnh dừng lại, bất ngờ một tràng trung liên của địch vút trên đầu. Tất cả đều nằm chúi đầu xuống đất. Anh Thanh thầm thì vừa đủ nghe: không được bắn. B40 của địch khai hoả, tiếng nổ đanh lại trên những hàng cây. Đạn AK của địch giăng lưới như trấu vãi. Tôi chui tọt vào một bụi cây chờ lệnh. Chừng nửa tiếng đồng hồ tiếng súng thưa dần rồi im bặt. Chắc là địch bắn hú hoạ.Chúng tôi đang ở trong khu rừng đầy bụi mây. Mây chằng chịt gai, định thần lại tôi thấy mấy thằng lính mới đang mắc kẹt giữa đám mây rừng. Chắc là lần đầu nghe đạn réo trên đầu, sợ quá nên chúng tôi không thấu cảm giác gai cào. Lóp ngóp mãi tôi mới gỡ được gai mây chui ra. Đứng trên đồi cao, tôi nhìn thấy thị xã Paillin mờ xa phía trước. Lòng vui như mở hội vì sắp được về cứ. Không đi trên lối mòn chúng tôi cắt rừng để khỏi bị mìn. Rừng cháy nham nhở, trơ những gốc cây đầy tàn tro. Đến gần suối cạn, tôi đi đầu. Được một đoạn anh Thanh băng lên bảo: mày đi chậm về cứ tối mất, để anh đi cho. Tôi đi gần, anh Thanh quay lại bảo cách xa ra. Đi chừng vài trăm mét, tôi nghe "oàng" phía trước, bụi bay tung trời, anh Thanh ngã gục. Cả đội hình nháo nhào. Có tiếng hô: "Nằm tại chỗ, không được chạy". Lính mới chưa có kinh nghiệm, chạy dạt ra hai bên sẽ vướng mìn địch cài. Không nghe tiếng súng địch bắn, biết chắc không phải bị phục, anh Duyên chạy lên. Chân anh Thanh máu tuôn xối xả, bàn chân dập nát. Anh Cảnh garo cầm máu chân anh Thanh. Lần đầu tiên thấy máu tôi điếng cả người. Cũng may là địch gài quả mìn KP2 cách gốc cây anh Thanh vướng dây một đoạn xa. Sau này tôi chứng kiến mìn KP2 bay lên gần bụng mới nổ, độ sát thương cao, thường người vướng chết không toàn thây. Chúng tôi chặt cây làm cáng khiêng anh Thanh trong khi anh Cảnh lò dò gỡ mìn. Từ chỗ gặp nạn, qua suối cạn anh Cảnh gỡ hơn hai chục quả mìn. Cả một bãi mìn, chúng tôi may mắn thật sự. Khiêng anh Thanh về, băng qua những đồi dốc hoà trong bóng đêm tôi nghe lòng nặng trĩu. Chiến tranh không thể nói trước điều gì. Đúng ra người bị mìn là tôi. Anh Thanh đã để lại chiến trường một bàn chân thay tôi. Cuộc chiến như một cơn lốc đã cuốn tôi và đồng đội vào vòng xoáy không thể thoát ra được. Tôi dò hỏi được biết anh Thanh quê Bình Định, như là người Hoài Nhơn. Trong những lúc trầm tĩnh nhất của đời mình, tôi thường nghĩ về anh, về cái ơn mà anh đã mang lại cho tôi. Nhất định tôi sẽ tìm thăm anh cũng như những bạn bè đã từng có những ngày gian khổ bên nhau. Phải có những thứ mất đi, ta mới nhận ra những ngày đang sống là hạnh phúc!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn