Bài viết

KỂ CHUYỆN TRƯỜNG SƠN – SỐ 76: TÒA SOẠN TRẢI TRÊN CHIẾN TRƯỜNG

Một tòa soạn không nhà, không bàn giấy cố định, mở ra theo bước chân phóng viên Thông tấn xã Giải phóng Khu V giữa bom đạn chiến trường. NGÀY 5/8/1974 Đường liên lạc dạo này khá thông. Những gì gia đình gửi vào, từ mấy dòng nhắn nhủ, tấm ảnh đến chút quà, tôi đều nhận được đầy đủ và khá sớm. Tôi vẫn gầy nhưng sức khỏe bình thường. Công việc thì dồn dập vì đang giữa chiến dịch. Ngân và tôi thỉnh thoảng mới gặp được nhau, nhưng càng trong hoàn cảnh ấy càng hiểu và thương nhau hơn. Ngân rất thiếu hơi ấm gia đình, nên chỉ một lời bố mẹ hỏi qua thư cũng đủ làm cô ấy vui. Chuyện của hai đứa vẫn phải gác lại. Anh Hường chưa vào, chiến dịch chưa dứt, chẳng biết phải chờ đến bao giờ. Điều làm tôi bồn chồn hơn cả là bố mẹ ngày một già. Muốn ra thăm, muốn được ở bên chăm sóc mà không thể đi. Chiến trường có những cái buộc người ta phải nén lại. Tôi chỉ biết mong bố mẹ hiểu cho sự xa cách ấy. Việc gì đến rồi sẽ đến; càng sốt ruột càng dễ hỏng. Ngoài nhà, các em vẫn là mối quan tâm thường trực. Tôi vừa gặp Minh Đức, con chú Dư, đang học trường Y, cách chỗ tôi hai ngày đường. Gặp một người từ ngoài Bắc vào, hỏi được vài câu chuyện gia đình, cũng thấy khoảng cách như ngắn lại. ________________________________________ TỪ 7 ĐẾN 10/8/1974 Từ các địa bàn phía trước, tin tức dồn về liên tiếp. Quảng Đà đang nóng. Hồ Điển, cán bộ Công đoàn nhưng là cộng tác viên của Thông tấn xã, đã xuống đó gần hai mươi ngày, đứng ở một bộ phận phía trước của Công đoàn. Từ Đà Nẵng, thỉnh thoảng cơ sở lại tìm cách ra ngoài. Nhưng mười ngày nay địch thua đau, phẩn ứng dữ, đường sá bị kiểm soát gắt, người trong thành phố khó lọt ra. Năm bộ ảnh từ Khu đưa xuống đã tới các bàn đạp sát Đà Nẵng. Cán bộ từ nội thành ra chuyền tay nhau xem. Ảnh có sức thuyết phục đặc biệt đối với quần chúng đô thị. Chỉ tiếc hình ảnh miền Bắc quá ít. Người trong ấy, nhất là trí thức, rất muốn biết miền Bắc bây giờ ra sao. Mấy tấm phim chụp hình Bác Hồ và chị Võ Thị Thắng đã lọt được vào thành phố. Một cơ sở bí mật làm ảnh nghệ th

Hà Nội22/08/2026Xã Tân An (Đoàn xã Tân An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Một tòa soạn không nhà, không bàn giấy cố định, mở ra theo bước chân phóng viên Thông tấn xã Giải phóng Khu V giữa bom đạn chiến trường.

NGÀY 5/8/1974

Đường liên lạc dạo này khá thông. Những gì gia đình gửi vào, từ mấy dòng nhắn nhủ, tấm ảnh đến chút quà, tôi đều nhận được đầy đủ và khá sớm.

Tôi vẫn gầy nhưng sức khỏe bình thường. Công việc thì dồn dập vì đang giữa chiến dịch. Ngân và tôi thỉnh thoảng mới gặp được nhau, nhưng càng trong hoàn cảnh ấy càng hiểu và thương nhau hơn. Ngân rất thiếu hơi ấm gia đình, nên chỉ một lời bố mẹ hỏi qua thư cũng đủ làm cô ấy vui.

Chuyện của hai đứa vẫn phải gác lại. Anh Hường chưa vào, chiến dịch chưa dứt, chẳng biết phải chờ đến bao giờ.

Điều làm tôi bồn chồn hơn cả là bố mẹ ngày một già. Muốn ra thăm, muốn được ở bên chăm sóc mà không thể đi. Chiến trường có những cái buộc người ta phải nén lại. Tôi chỉ biết mong bố mẹ hiểu cho sự xa cách ấy. Việc gì đến rồi sẽ đến; càng sốt ruột càng dễ hỏng.

Ngoài nhà, các em vẫn là mối quan tâm thường trực. Tôi vừa gặp Minh Đức, con chú Dư, đang học trường Y, cách chỗ tôi hai ngày đường. Gặp một người từ ngoài Bắc vào, hỏi được vài câu chuyện gia đình, cũng thấy khoảng cách như ngắn lại.

________________________________________

TỪ 7 ĐẾN 10/8/1974

Từ các địa bàn phía trước, tin tức dồn về liên tiếp.

Quảng Đà đang nóng.

Hồ Điển, cán bộ Công đoàn nhưng là cộng tác viên của Thông tấn xã, đã xuống đó gần hai mươi ngày, đứng ở một bộ phận phía trước của Công đoàn. Từ Đà Nẵng, thỉnh thoảng cơ sở lại tìm cách ra ngoài. Nhưng mười ngày nay địch thua đau, phẩn ứng dữ, đường sá bị kiểm soát gắt, người trong thành phố khó lọt ra.

Năm bộ ảnh từ Khu đưa xuống đã tới các bàn đạp sát Đà Nẵng. Cán bộ từ nội thành ra chuyền tay nhau xem. Ảnh có sức thuyết phục đặc biệt đối với quần chúng đô thị. Chỉ tiếc hình ảnh miền Bắc quá ít. Người trong ấy, nhất là trí thức, rất muốn biết miền Bắc bây giờ ra sao.

Mấy tấm phim chụp hình Bác Hồ và chị Võ Thị Thắng đã lọt được vào thành phố. Một cơ sở bí mật làm ảnh nghệ thuật nhận phim, mừng lắm, định phóng ra để truyền đi nhiều nơi.

Chiều ngược lại, từ Đà Nẵng cũng chuyển ra được vài hình ảnh.

Trẻ con bơ vơ bên rào thép gai.

Hai em bé cụt chân.

Một đứa trẻ mất cha mẹ đang khóc trên hè phố.

Một em bé đói đứng ngoài tủ kính nhìn bánh mì, pa-tê, chả.

Chỉ có bốn cảnh ấy thôi. Không phải Đà Nẵng không còn gì để chụp, mà vì không có phim.

Máy ảnh có trong tay, cảnh thì đầy trước mắt, nhưng xoay mãi chỉ kiếm được nửa cuộn phim. Ở chiến trường, đôi khi người phóng viên đứng trước một cảnh không thể gặp lần thứ hai mà đành nhìn nó trôi qua vì trong máy không còn một mẩu phim nào.

Quảng Đà còn có Trần Hồng Cơ.

Cơ vừa trải qua hai chuyến Điện Bàn, cộng lại hai tháng. Đi rất nhiều, ghi đặc mấy cuốn sổ. Gặp dân, có lúc không cầm được nước mắt. Dân ở đó khổ đến cùng cực mà gan góc đến kinh ngạc.

Cơ day dứt nhất ở một chuyện: sống quá nhiều mà viết chưa được bao nhiêu.

Tin thì đã biết làm. Mẩu chuyện cũng tạm được. Nhưng phóng sự, ghi nhanh, tường thuật — làm thế nào để những gì mình đã nhìn thấy, nghe thấy, xúc động vì nó biến thành một bài báo thực sự — vẫn là câu hỏi.

Một phóng viên trẻ tự vật lộn với nghề giữa chiến trường như thế.

Nhưng bảo đi thì đi ngay.

Đi lâu cũng được.

Đi đến đâu cũng được.

Hiểm nguy không phải điều khiến Cơ ngại. Điều làm anh bực mình là đã sống hai tháng giữa một vùng đất nóng bỏng như Điện Bàn mà chưa viết được một cái gì tương xứng với những gì đã thấy.

Ở một hướng khác, Dương Đức Quảng vừa theo bộ đội đánh căn cứ Bảo an ở ngã ba Trùm Giao.

Kế hoạch bị lộ.

Địch đề phòng.

Đêm tiếp cận, một chiến sĩ lại vấp mìn.

Bộ đội vẫn bò vào sát đồn.

Bốn giờ sáng chưa nổ súng được. Bốn giờ rưỡi mới đánh. Chỉ khoảng ba phút sau, pháo địch đã dập xuống chung quanh trận địa như mưa.

Ta làm chủ được mục tiêu nhưng trời sáng nhanh, pháo càng dữ, phải rút.

Quảng cùng anh em chạy ngay dưới tầm quan sát từ núi Cấm, núi Bồ Bồ. May không ai sứt mẻ. Nguyễn Xuân Thâm bên Văn nghệ chỉ mất khẩu K.59.

Trong lúc trận đánh diễn ra, Quảng đã bấm hơn chục kiểu. Anh hy vọng được một, hai tấm đúng khoảnh khắc nổ súng. Phim vẫn còn nguyên trong máy, chưa dám tráng. Ở chiến trường, chụp được rồi vẫn chưa chắc đã có ảnh.

Rời Trùm Giao, Quảng xuống Điện Thọ, Điện Hòa, Điện An, sát đường Một.

Ban ngày phải mặc quần áo hợp pháp giả dạng thường dân, nhưng không được đi lại.

Ban đêm đi được thì không có ánh sáng mà chụp ảnh.

Địch đang càn. Bom pháo suốt ngày. Dân chạy dạt. Ta giành dân, địch cũng giành dân. Cả một vùng giằng co từng người.

Quảng cứ đuổi theo cuộc nổi dậy, nhưng khi mình đến thì sự việc đã qua; lúc sự việc xảy ra thì mình lại ở hướng khác.

Một bức ảnh nổi dậy sao mà khó đến thế!

Bình Định cũng không yên.

Nguyễn Long Phi vừa chạy công việc vừa lo cho Vinh ốm. Hai người đi cùng nhau, một người bệnh thì người kia không thể bỏ đi xa. Thuốc, đường, sữa phải chạy tìm từng thứ.

Đến khi có thể trở lại Phù Cát, Phi đi một mình. Bom đạn liên tục. Chỉ trong một đêm, hai xã Cát Minh, Cát Tài mất năm, sáu cán bộ, du kích. Dân chạy hết. Phi vẫn bám bộ đội, bám địa phương lấy tin, rồi tự chê mình: đi nhiều như thế mà cuối cùng vẫn chủ yếu chỉ viết được tin.

Nguyễn Xuân Quyết cũng đang săn ảnh nổi dậy. Hai lần xuống phía trước, vẫn trắng tay. Có nơi quá ác liệt, thiếu hầm hào, cán bộ địa phương nhất quyết không cho phóng viên ở lại. Mấy anh quay phim xuống rồi cũng nằm dài chờ. Đi sâu hơn lại vướng chuyện ăn. Gạo không mua được. Muốn có gạo phải quay về rất xa để cõng, trong khi vượt đường vào vùng địch lại đòi hỏi hành trang càng nhẹ càng tốt.

Quyết vẫn moi tài liệu làm được hai bài: Bức chốt và Em bé dũng cảm. Có chuyện khi đến nơi thì sự việc đã xảy ra, phải lần tìm người trực tiếp tham gia để dựng lại. Chi tiết nào cũng phải hỏi đi hỏi lại cho chắc.

Phú Yên xa nhất.

Nguyễn Hưng Thạnh xuống Tuy Hòa 1 từ giữa tháng sáu, định đầu tháng bảy quay về, nhưng kẹt đường hai lần, thành ra gần hai tháng mới ra được.

Ở đây, cái khó chưa hẳn chỉ là bom đạn. Muốn lấy tài liệu, sang Văn phòng tỉnh thì được bảo đã chuyển sang Tuyên huấn. Sang Tuyên huấn, khi có khi không, có lúc tìm mãi chẳng thấy. Ngồi ở tỉnh thì thiếu thực tế. Đi huyện, xã lâu lại bỏ mất nguồn tin ở tỉnh.

Thạnh tự tính: mỗi đợt xuống cơ sở khoảng mười, mười lăm ngày rồi quay về, quét các nguồn quanh tỉnh, sau đó lại đi. Sống với cơ quan địa phương thì cùng làm mọi việc: sản xuất, cõng gạo, cải thiện bữa ăn. Không đứng ngoài như một người đến lấy tài liệu rồi đi. Nghe các địa bàn khác làm được nhiều, một mình ở Phú Yên cũng nóng ruột. Nhưng mỗi chiến trường một hoàn cảnh, chỉ còn cách làm hết khả năng của mình.

Ở Khu, bản tin hàng ngày của chúng tôi đã chạy sang nhiều cơ quan. Chỉ cần mấy ngày gián đoạn, Ban Hiệp định đã giục ngay. Họ cần từng tư liệu để phục vụ đấu tranh lâu dài của Liên hiệp Quân sự hai bên.

Từ đó lại chuyển sang chúng tôi những vụ việc phải nhanh chóng đưa lên đài: phá chùa, đốt nhà, giết dân, bắn phá làng xóm...

Một guồng thông tin cứ thế vận hành giữa chiến trường.

Người ở phía trước bám trận địa, bám dân.

Người chụp ảnh tìm từng cuộn phim.

Người viết lần từng chi tiết.

Bài, ảnh theo giao liên trở về Khu.

Ở nhà, chúng tôi đọc, biên tập, điện tin, in ảnh rồi lại chuyển tài liệu đi.

Không có một tòa soạn theo nghĩa thông thường.

Tòa soạn nằm rải trên cả chiến trường.

________________________________________

NGÀY 11/8/1974

Từ Hà Nội vào là một nhịp sống hoàn toàn khác.

Quà cho hai đứa đã gửi theo anh Hường. Mẹ chỉ mong khi nhận được thì báo ngay để cả nhà yên tâm.

Lan học tốt, được lên thẳng lớp tám. Diệp đã đủ điểm vào đại học. Hai việc tưởng nhỏ nhưng đối với mẹ là trút được hai mối lo lớn.

Cả nhà lại nghe phong thanh rằng khi đoàn xe anh Hường quay ra, có thể tôi được về. Chưa biết tin có chắc không mà ai cũng mừng.

Mẹ còn sang gặp anh Sâm hỏi chuyện cho hai đứa ra thăm nhà. Câu trả lời lại dính ngay đến chuyện cưới. Nếu cưới rồi thì có thể thu xếp cho cả hai cùng ra.

Thế là ngoài Hà Nội, mọi người đã nghĩ đến đám cưới trong khi trong này chúng tôi vẫn chưa biết chiến dịch sẽ kéo dài đến bao giờ.

Rồi mẹ kể những chuyện rất mẹ.

Cái đài pin ở nhà hỏng rồi. Nếu trong ấy có đài Nhật thì xem mua giúp một cái.

Len ngoài Bắc vừa xấu vừa đắt. Nếu kiếm được len tốt thì mẹ muốn có ít len để đan áo dài tay.

Rồi chính mẹ lại tự dừng: “Nói thế thôi chứ điều kiện đâu ra mà con mua tất cả những thứ mẹ cần được.”

Bố mẹ và các em vẫn khỏe. Anh Đức cũng tính chuyện cuối năm cưới.

Trong này tôi lo bố mẹ già.

Ngoài ấy bố mẹ mong hai đứa con trở về.

Hai đầu cách nhau cả một chiến trường, nhưng điều nghĩ đến vẫn chỉ là sức khỏe, việc học của các em, chuyện cưới xin, một chiếc đài, vài cuộn len — những chuyện bình thường đến nao lòng.

________________________________________

NGÀY 17/8/1974

Tin Thượng Đức về.

Năm giờ sáng ngày 7 tháng 8, ta giải phóng hoàn toàn chi khu quân sự, quận lỵ nằm cách Đà Nẵng khoảng 45 kilômét.

Đêm đầu mới bóc được lớp phòng thủ bên ngoài. Sau đó là tám ngày đêm bao vây, đánh lấn. Hơn ba trăm quân địch bị bắt, khoảng hai vạn dân được giải phóng.

Một trận đánh lớn vừa kết thúc.

Với phóng viên Quảng Đà, một cuộc chạy đua khác lập tức bắt đầu: ai xuống được Thượng Đức, ai lấy được tài liệu, ai có ảnh?

________________________________________

TỪ 18 ĐẾN 21/8/1974

Bình Định tiếp tục sôi lên.

Nguyễn Thành Vinh vừa từ Phù Mỹ về, đã có một số phim về đợt nổi dậy mới. Người trong tổ tỏa đi: Nam Phù Cát, phía trước, tỉnh...

Vinh nhiều lần gặp nguy hiểm, có chuyến xuống Mỹ Lợi suýt chết. Nhưng càng được góp ý về nghề, càng lao vào công việc.

Người thì ốm.

Người thì sốt rét.

Người vừa thoát một trận máy bay bắn cháy cả lùm rơm nơi đang trú, năm người bên cạnh bị thương nặng.

Hội nghị sơ kết chiến dịch cũng không yên. Sáng khai mạc, khu vực họp bị bắn phá, phải thu hẹp thành phần.

Công việc có những nỗi áy náy rất nghề nghiệp.

Một em bé bị địch giết, tin đã có gần đủ, chỉ thiếu cái tên.

Điện hỏi. Chờ. Vẫn không ra. Một cái tên nhỏ bé ấy cũng đủ khiến người làm tin bứt rứt vì bản tin chưa trọn.

Hồ Phước Huề ở xa Phân xã đã bốn tháng.

Sống gần nhau hàng ngày tưởng bình thường. Đi xa rồi mới thấy anh em trong cơ quan thành một “gia đình lớn”. Giữa chiến trường, chỉ nhìn thấy nét chữ quen của nhau cũng đã thấy ấm.

Huề nghe tin tôi và Ngân đều gầy yếu thì lo. Đường, sữa, thuốc bổ có bao nhiêu cứ dùng, đừng dành cho người khác. Ở đồng bằng còn có cá biển tươi mà ăn; chỉ có hai chữ Miền Bắc là chẳng kiếm đâu ra được.

Chuyện cưới của chúng tôi cũng chạy xuống tận Bình Định.

Huề bảo nếu đủ điều kiện thì cứ làm, đừng chờ. Anh khó về được — “Cách mạng miền Nam mà”.

Nếu biết ngày, tổ Bình Định sẽ mở liên hoan đúng hôm ấy, gửi điện chúc mừng “đám cưới đầu tiên” của Thông tấn xã Giải phóng Trung Trung Bộ.

Đang vui lại chuyển sang chuyện Thùy bị thương.

Huề ở một địa bàn khác, nóng ruột mà không thể bỏ vị trí. Người thân gặp nạn nhưng mình vẫn phải ở lại nơi đang làm nhiệm vụ. Đó là một thứ bất lực rất riêng của chiến trường.

Quảng Đà lúc này càng căng.

Cơ đã đi vùng B - Đại Lộc. Đán được giữ lại để cùng Cơ bám tiến công quân sự, binh vận, cố lấy cho được ảnh nổi dậy, nhất là ở Thượng Đức.

Thụ vừa trở về sau một chuyến khốn khổ. Gặp địch liên tục, chạy đến hụt hơi, cuối cùng không chụp được một tấm nào.

Quảng phải bàn lại cách làm.

Không thể cứ hình dung “nổi dậy” nhất thiết phải là một đám đông cầm dao, mác, gậy gộc đi phá bộ máy kìm kẹp rồi ôm máy ngồi chờ đúng cảnh ấy.

Chiến đấu là nổi dậy.

Dân trở về làng cũng là nổi dậy.

Sản xuất, xây dựng vùng mới giành được cũng là một phần của cuộc đấu tranh ấy.

Mở cách nhìn ra thì mới có cái để chụp, để viết.

Thụ hiểu ra. Viết ngay một bài, một mẩu chuyện gửi về, rồi lại khoác ba lô đi Tây Duy Xuyên.

Còn quanh nơi Quảng đứng chân, địch tăng quân đột ngột. Hai lữ dù, một liên đoàn biệt động, hai trung đoàn bộ binh, gần một trăm khẩu pháo từ 105 đến 175 ly được dồn về Quảng Đà.

Ngày nào cũng bom.

Đêm nào cũng pháo.

Bộ binh địch ở ngay quả đồi trước mặt.

Dưới Điện Bàn, có nơi du kích phải tạm dạt lên núi.

Đài, điện ảnh, phóng viên đều xà quần trong vùng ấy, chẳng ai dễ dàng làm được đúng kế hoạch ban đầu.

Giữa cảnh đó, Quảng vẫn soi từng bản tin phát ra ngoài và phản ánh lại chúng tôi. Có tin nói Quảng Đà đánh sập cầu Giáng. Lạ ở chỗ Giáng La chẳng có cây cầu nào ra hồn, ngoài một chiếc cầu tre bắc qua khe cạn mà chính Quảng từng đi qua. Các trận quanh An Hòa, Đức Dục, Thượng Đức cũng lúc ghi Quảng Nam, lúc ghi Quảng Đà.

Bom đạn không phải lý do để cho phép một địa danh được viết sai.

Cuối những ngày ấy, ở hậu cứ Quảng Đà chỉ còn Cơ trực.

Gọi là hậu cứ nhưng chẳng có gì là phía sau cả.

Bom pháo liên tục.

Ban Tuyên huấn phải chuyển chỗ ở để tránh đạn.

Điện báo bị kẹt.

Cường bị thương đi viện.

Dũng ra tiền phương.

Quảng xuống Điện Bàn.

Thụ đi Tây Duy Xuyên.

Đán đang ở đâu, Cơ cũng không rõ.

Cơ ở lại, cố vớt từng mẩu tin gửi về.

Bốn giờ sáng hôm sau lại phải gùi đồ chuyển chỗ. Ba tiếng đường, qua hai con dốc.

Anh tự giễu mình: “Phải ở tù cho hết chiến dịch.”

Nhưng chính từ những người “ở tù”, những người chạy dưới pháo, những người nằm chờ phim, cõng gạo, bám bộ đội, chui vào vùng địch ấy mà dòng tin vẫn không đứt.

Nhìn lại mấy tuần của tháng tám, tôi thấy cả bộ máy của Phân xã hiện lên rất rõ.

Không ai chỉ làm một việc.

Phóng viên tự tìm đường, tự lo ăn, chăm đồng đội ốm, bám trận đánh, gặp dân, ghi chép, chụp ảnh, kiểm tra từng cái tên, từng địa danh. Có người đi hai tháng không viết được bài nào ưng ý. Có người đánh đổi cả một chuyến đi chỉ mong lấy được một khuôn hình. Có người trắng tay trở về rồi hôm sau lại đi.

Ở phía sau, tôi theo dõi các địa bàn, đọc tin bài, góp ý cho từng người, bố trí lực lượng, nhận phim, chuyển ảnh, giữ cho các mối liên lạc không bị đứt.

Ngoài Hà Nội, bố mẹ vẫn ngóng tin, tính chuyện cho hai đứa về nhà, lo từ chuyện cưới xin đến chiếc đài hỏng và mấy cuộn len.

Một bên là gia đình nhỏ.

Một bên là cái gia đình lớn trải suốt chiến trường.

Tôi sống giữa cả hai.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn