Khác

KỂ VỀ DANH NHÂN LỊCH SỬ QUANG TRUNG - NGUYỄN HUỆ

Gia Lai16/09/2026Đoàn xã Hưng Vũ (Xã Hưng Vũ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bậc thiên tài quân sự áo vải cờ đào và cuộc hành quân thần tốc đại phá quân Thanh

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, thế kỷ XVIII chứng kiến một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc khi đất nước bị chia cắt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài, triều đình phong kiến mục nát đẩy nhân dân vào cảnh lầm than. Chính trong bão táp của thời đại ấy, một người anh hùng áo vải đã đứng lên từ vùng đất Tây Sơn, dùng tài năng quân sự bách chiến bách thắng để dẹp loạn trong nước, đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc, lập nên những chiến công hiển hách bậc nhất. Người anh hùng vĩ đại ấy chính là Quang Trung - Nguyễn Huệ (1753 – 1792). Cuộc đời ông là một bản hùng ca bất bại, mà đỉnh cao là cuộc hành quân thần tốc, đại phá 20 vạn quân Thanh vào mùa xuân kỷ dậu 1789, giữ vững vẹn toàn bờ cõi giang sơn.

Nguyễn Huệ (sau này là Hoàng đế Quang Trung) sinh ra tại vùng Tây Sơn hạ đạo (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Ông cùng với hai người anh em của mình là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ được người đời gọi là "Tây Sơn tam kiệt". Ngay từ thuở nhỏ, Nguyễn Huệ đã bộc lộ những phẩm chất phi thường: thân hình cao lớn, tóc xoăn, tiếng nói sang sảng như chuông, đặc biệt là đôi mắt sáng như chớp, có khả năng nhìn thấu tâm can người khác. Ông được theo học thầy giáo Hiến – một bậc sĩ phu yêu nước, uyên bác. Thầy Hiến sớm nhận ra thiên tài ẩn chứa trong người học trò nhỏ này nên đã truyền dạy hết cả văn chương lẫn binh pháp, võ nghệ, đồng thời gieo vào lòng ông chí lớn cứu nước cứu dân với lời dặn: "Tây Sơn khởi nghĩa, bờ cõi mong chờ".

Mùa xuân năm 1771, ba anh em Tây Sơn chính thức phất cờ khởi nghĩa chống lại sự thống trị tàn bạo của chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Với khẩu hiệu mang tính nhân văn sâu sắc: "Lấy của nhà giàu chia cho người nghèo", cuộc khởi nghĩa nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt của nhân dân. Trong hàng loạt chiến trận, Nguyễn Huệ bộc lộ thiên tài quân sự độc nhất vô nhị. Ông chỉ huy quân đội đánh đổ chúa Nguyễn ở phía Nam, đập tan quân xâm lược Xiêm tại trận rạch Gầm - Xoài Mút (1785) chỉ trong một đêm. Sau đó, ông dũng cảm tiến quân ra Bắc, lật đổ tập đoàn chúa Trịnh đã tồn tại hàng thế kỷ ở Đàng Ngoài, đặt nền móng đầu tiên cho sự nghiệp thống nhất đất nước.

Tuy nhiên, thử thách lớn nhất và oanh liệt nhất trong cuộc đời Nguyễn Huệ diễn ra vào cuối năm 1788. Vua Lê Chiêu Thống hèn nhát vì muốn giữ lấy ngai vàng ích kỷ đã rước 29 vạn quân Thanh do Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị thống lĩnh sang xâm lược nước ta. Quân giặc hung hãn tràn vào chiếm đóng kinh thành Thăng Long, thi hành chính sách cướp bóc, tàn sát dã man đồng bào ta. Đứng trước họa mất nước, ngày 22 tháng 12 năm 1788 (tức ngày 25 tháng 11 năm Mậu Tuất), tại núi Bân (Huế), Nguyễn Huệ chính thức làm lễ tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức thống lĩnh đại quân tiến gấp ra Bắc.

Để củng cố lòng tin và khích lệ tinh thần quyết chiến của tướng sĩ, tại lễ duyệt binh lớn ở Nghệ An, Hoàng đế Quang Trung đã dõng dạc đọc lời dụ bất hủ, vang vọng núi sông, khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam:
“Đánh cho để dài tóc,
Đánh cho để đen răng,
Đánh cho nó chích luân bất phản,
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn,
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ!”

Lời hịch đanh thép ấy như ngọn lửa thổi bùng lòng tự tôn dân tộc, khiến hàng vạn binh sĩ sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa. Từ Nghệ An, Quang Trung đã thực hiện một cuộc hành quân thần tốc vô tiền khoáng hậu trong lịch sử quân sự thế giới. Ông chia quân thành các toán nhỏ, sử dụng võng cáng để ba người một tốp, hai người khênh thì một người được nằm nghỉ, thay phiên nhau đi liên tục không dừng nghỉ suốt ngày đêm. Chỉ trong vòng vài ngày, đại quân Tây Sơn đã ra đến vùng Tam Điệp (Ninh Bình). Tại đây, nhà vua cho quân lính ăn Tết Nguyên Đán trước và tự tin tuyên bố với các tướng sĩ: “Nay hãy ăn Tết trước, đến ngày mồng 7 tháng Giêng vào thành Thăng Long sẽ mở tiệc ăn mừng lớn!”.

Đúng đêm ba mươi Tết, quân Tây Sơn bất ngờ mở cuộc tổng tấn công. Bằng chiến thuật hành quân bí mật, bất ngờ và cơ động, quân ta nhanh chóng tiêu diệt các đồn tiền tiêu của giặc ở sông Gián Khẩu, Nguyệt Quyết mà không để thoát một tên lính nào làm tai mắt cho địch. Sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu (ngày 30 tháng 1 năm 1789), Hoàng đế Quang Trung trực tiếp chỉ huy trận đánh quyết định tại đồn Ngọc Hồi và đồn Khương Thượng - Đống Đa. Tại đồn Ngọc Hồi, nhà vua cho binh lính bện những tấm lá chắn bằng rơm dầm nước, cứ ba người khiêng một tấm che phía trước, che chở cho bộ binh vác đoản đao xông thẳng vào trận địa đại bác của giặc. Quân Tây Sơn như từ dưới đất chui lên, lao vào giáp lá cà, đánh tan nát tuyến phòng thủ kiên cố của quân Thanh.

Cùng lúc đó, mũi quân của tướng Đặng Tiến Đông bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng, đốt cháy hàng vạn doanh trại giặc bằng những "rồng lửa" bện rơm độc đáo. Tiếng hò reo, tiếng trống trận gầm vang trời đất. Tướng giặc là Sầm Nghi Đống hoảng sợ, bất lực nhìn quân đội tan rã liền thắt cổ tự tử tại gò Đống Đa. Nghe tin các đồn lũy vững chắc nhất bị san phẳng hoàn toàn trong chớp mắt, Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đang ở trong kinh thành Thăng Long rụng rời chân tay, không kịp đóng yên ngựa, không kịp mặc giáp, hoảng loạn cùng vài kỵ binh bỏ chạy tháo thân sang bờ Bắc sông Hồng. Quân Thanh giẫm đạp lên nhau mà chạy, làm sập cả cầu phao, xác giặc nghẽn cả khúc sông.

Trưa mùng 5 Tết, sớm hơn hai ngày so với lời tuyên bố, Hoàng đế Quang Trung ngạo nghễ ngự trên lưng voi chiến, chiếc áo bào màu đỏ đã nhuộm đen khói súng, dẫn đầu đại quân tiến vào kinh thành Thăng Long giữa sự chào đón quần chúng hân hoan, rợp trời cờ hoa của hàng vạn người dân. Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa xuân Kỷ Dậu 1789 đã đập tan hoàn toàn ý chí xâm lược của nhà Thanh, giải phóng hoàn toàn đất nước.

Sau chiến thắng vĩ đại, vua Quang Trung bắt tay ngay vào công cuộc canh tân đất nước với tầm nhìn vượt thời gian. Ông khuyến khích phát triển nông nghiệp, mở cửa thông thương buôn bán với nước ngoài, chấn chỉnh giáo dục, đưa chữ Nôm thành văn tự chính thức của quốc gia. Đáng tiếc thay, khi những hoài bão lớn lao đang dang dở, nhà vua bất ngờ băng hà vào năm 1792 ở tuổi 39, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho dân tộc. Tuy trị vì ngắn ngủi, nhưng Quang Trung - Nguyễn Huệ mãi mãi là một tượng đài bất tử, vị anh hùng áo vải bách chiến bách thắng, biểu tượng rực rỡ của ý chí độc lập, tự cường và sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn