“KÉO PHÁO RA” – QUYẾT ĐỊNH KHÓ KHĂN NHẤT CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
Bài học cho thế hệ trẻ hôm nay: Một quyết định đúng đắn không chỉ cần lòng dũng cảm mà còn cần sự bình tĩnh, sáng suốt và tinh thần trách nhiệm. Nhìn tấm gương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và người anh hùng Tô Vĩnh Diện, mỗi chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống của cha ông, càng phải chăm chỉ học tập, rèn luyện để xứng đáng với những hy sinh của thế hệ đi trước.
Đầu năm 1954, núi rừng Tây Bắc chìm trong sương lạnh. Giữa lòng chảo Điện Biên Phủ, thực dân Pháp đã dựng lên một tập đoàn cứ điểm mà chúng tự hào gọi là “pháo đài bất khả xâm phạm”, với hàng chục cứ điểm, sân bay, xe tăng, đại bác và hơn một vạn quân tinh nhuệ. Phía ta, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch và giao cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy mặt trận. Trước lúc lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh.” Lời dặn ấy theo Đại tướng suốt dọc đường lên mặt trận.
Khi Đại tướng tới nơi, phương án tác chiến đã được bàn bạc từ trước: “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, tức là dồn toàn lực tiến công liên tục, mong tiêu diệt tập đoàn cứ điểm trong khoảng hai ngày ba đêm, trước khi địch kịp củng cố thêm. Để chuẩn bị cho trận đánh, hàng vạn bộ đội đã ngày đêm mở đường, kéo pháo nặng vào trận địa. Những khẩu lựu pháo nặng hơn hai tấn được kéo bằng tay, bằng dây tời, vượt dốc cao, vực sâu, đêm đi ngày nghỉ, dưới tầm quan sát của máy bay địch. Có những đêm cả đơn vị chỉ nhích được vài trăm mét. Giờ nổ súng được ấn định vào chiều ngày 25 tháng 1 năm 1954, sau đó lùi sang ngày 26 tháng 1.
Thế nhưng, càng gần giờ nổ súng, Đại tướng càng trăn trở. Ông đi kiểm tra trận địa, nghe báo cáo từ các mũi, từ cán bộ trinh sát, và nhận thấy những điều đáng lo. Địch đã kịp tăng cường lực lượng, hệ thống công sự ngày càng kiên cố, có hàng rào dây thép gai dày đặc và lưới hỏa lực đan chéo. Trong khi đó, bộ đội ta phần lớn chưa từng đánh một tập đoàn cứ điểm lớn như vậy giữa ban ngày, trên địa hình trống trải; pháo binh đặt ở trận địa lộ thiên rất dễ bị pháo địch và máy bay phản kích. Nếu đánh theo cách cũ, ta có thể chiếm được một số vị trí, nhưng nguy cơ bị chặn lại giữa chừng, thương vong lớn và để lỡ cả chiến dịch là rất cao.
Suốt mười một ngày đêm ở mặt trận, Đại tướng hầu như không có giấc ngủ trọn vẹn. Đêm 25 tháng 1, trong căn lán nhỏ giữa rừng, ông thức trắng. Đầu nhức như búa bổ, ông phải lấy khăn thấm nước lạnh đắp lên trán. Ông nghĩ đến lời Bác: “Chắc thắng mới đánh.” Ông nghĩ đến từng khuôn mặt chiến sĩ trẻ, những người con của bao bà mẹ đang mong ngóng ở hậu phương. Ông hiểu rằng nếu đổi phương án thì hàng vạn người đang sẵn sàng xung trận sẽ phải lui về, công sức kéo pháo bao ngày coi như làm lại từ đầu, tinh thần bộ đội có thể bị ảnh hưởng. Nhưng nếu cứ đánh mà thua, thì cái giá phải trả sẽ là máu xương của chiến sĩ và vận mệnh của cả cuộc kháng chiến.
Sáng 26 tháng 1, Đại tướng triệu tập cuộc họp Đảng ủy mặt trận. Giọng ông trầm và chắc: theo nhận định của ông, đánh theo phương án “đánh nhanh, giải quyết nhanh” thì không thể chắc thắng. Ông đề nghị hoãn cuộc tiến công, chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”: bao vây, đánh lấn từng bước, tiêu diệt từng cứ điểm, từng cụm cứ điểm, tiến tới tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm. Sau khi cân nhắc kỹ, Đảng ủy mặt trận đã nhất trí. Đại tướng ra mệnh lệnh ngắn gọn: hoãn tiến công, bộ đội lui về vị trí tập kết, và kéo pháo ra.
Sau này, trong hồi ức của mình, Đại tướng viết rằng đó là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của ông. Một mệnh lệnh chỉ có vài chữ, nhưng là kết quả của biết bao đêm không ngủ và một tinh thần trách nhiệm rất lớn trước Đảng, trước nhân dân và trước sinh mệnh của từng người lính.
Kéo pháo ra còn gian nan hơn kéo pháo vào. Địch đã phát hiện một số trận địa và liên tục bắn phá. Trong một đêm cuối tháng 1 năm 1954, khi một khẩu pháo đang được kéo xuống dốc thì dây tời bị đứt, khẩu pháo lao nhanh về phía vực sâu. Pháo thủ Tô Vĩnh Diện đã lao mình chèn bánh pháo, giữ khẩu pháo lại cho đồng đội. Khẩu pháo được cứu, còn anh mãi mãi nằm lại với núi rừng Tây Bắc. Câu chuyện về người chiến sĩ “lấy thân mình chèn pháo” đã trở thành biểu tượng của tinh thần hy sinh quên mình ở Điện Biên Phủ.
Những tuần sau đó, cả mặt trận chuẩn bị lại theo cách mới. Pháo được đưa vào những công sự vững chắc, có hầm ẩn nấp và trận địa nghi binh, đặt trên các sườn núi bao quanh lòng chảo. Bộ đội đào hàng trăm ki-lô-mét giao thông hào, từng ngày siết chặt vòng vây, đưa mũi tiến công áp sát các cứ điểm của địch. Ở hậu phương, hàng vạn dân công gồng gánh, đẩy xe đạp thồ, đưa lương thực, đạn dược ra mặt trận.
Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, chiến dịch chính thức mở màn bằng trận tiến công cứ điểm Him Lam. Những loạt pháo của ta bất ngờ trút xuống đầu địch, làm quân Pháp choáng váng vì không ngờ đối phương có thể đưa pháo lớn lên những sườn núi cao như vậy. Trải qua 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt. Chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ấy đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương.
Nhiều năm sau, khi nhắc lại ngày 26 tháng 1 năm 1954, người ta vẫn nhớ đến hình ảnh vị Đại tướng đắp khăn lạnh lên trán, thức trắng đêm trong căn lán giữa rừng. Ông không chọn con đường nhanh nhất, cũng không chọn con đường dễ nhất. Ông chọn con đường chắc thắng nhất và ít đổ máu nhất cho bộ đội của mình. Đó là bản lĩnh của một vị tướng dám nhận trách nhiệm, đặt sinh mệnh người lính và lợi ích của dân tộc lên trên hết.



