KÉO PHÁO VÀO, KÉO PHÁO RA TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
KÉO PHÁO VÀO, KÉO PHÁO RA TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
Ngày 13 tháng 1 năm 1954, trong hang núi Thẩm Bắc thuộc huyện Tuần Giáo, toàn cảnh Điện Biên Phủ hiện lên trên một sa bàn cát lớn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng Mặt trận, báo cáo trước toàn thể cán bộ chỉ huy các cấp về mục đích, ý nghĩa của chiến dịch "Trần Đình" (mật danh của chiến dịch Điện Biên Phủ). Về phương án tác chiến, là dùng ba mũi thọc sâu vào trung tâm Mường Thanh, nhằm chia cắt địch ra từng mảng mà tiêu diệt. Phương châm tác chiến là "Đánh nhanh, giải quyết nhanh", tập trung binh, hỏa lực mạnh đột phá từ hướng Tây. Hai trung đoàn trọng pháo và cao xạ 37 ly tập trung bố trí trên cánh đồng ở Bản Nghịu, Nà Hi, Nà Tấu phía Bắc và Tây Bắc Điện Biên Phủ. Hai trung đoàn pháo xe kéo phải bỏ xe lại khu tập kết, dùng sức người để kéo mấy chục cỗ pháo vượt qua dải núi hiểm trở, có đỉnh cao trên 1000 mét từ đường Tuần Giáo đi Lai Châu. Chúng tôi tập trung theo dõi hướng chỉ của chiếc gậy trong tay Đại tướng đang lướt từ từ trên sa bàn cát, qua những dãy nũi cao trập trùng mà trong lòng vô cùng lo lắng. Đại tướng giải thích thêm: "... Chúng ta mở đường, dùng sức người để kéo pháo không phải vì chúng ta không làm được đường cho xe chạy, mà chính là để giữ bí mật, để giành yếu tố bất ngờ...".
Theo quyết tâm đó, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng Mặt trận, phổ biến kế hoạch làm đường kéo pháo vào trận địa:
- Đại đoàn 308, Trung đoàn sơn pháo 675, Trung đoàn công binh 151 đảm nhiệm mở đường trong thời gian một ngày đêm.
- Đại đoàn 312, Trung đoàn lựu pháo 45, Trung đoàn cao xạ 367, đảm nhiệm kéo 40 khẩu pháo vào trận địa, thời gian là bảy ngày đêm.
- Đạn pháo do anh chị em dân công hỏa tuyến vận chuyển theo đường kéo pháo.
- Bộ chỉ huy kéo pháo do các anh Lê Trọng Tấn - Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312, làm Chỉ huy trưởng; anh Phạm Ngọc Mậu - Chính ủy Đại đoàn 351 và anh Phạm Kiệt - Cục phó Cục Bảo vệ, làm Phó chỉ huy trưởng.
- Ngày 15 tháng 1 năm 1954 bắt đầu mở đường, ngày 16 tháng 1 bắt đầu kéo pháo vào.
Hội nghị kết thúc, nhiệm vụ rất khẩn trương, mọi công việc trao đổi, quán triệt đều được triển khai ngay trên đường trở về đơn vị trong ngày 14 tháng 1.
Ngày 15 tháng 1, gần 6.000 con người, với công cụ làm đường, đã rải đều trên dọc tuyến đường men theo các đồi núi dài 15 ki-lô-mét, bắt đầu từ ki-lô-mét 70 bản Nà Nham, đường Tuần Giáo - Điện Biên, vắt qua đỉnh Pha Sông cao 1.150 mét, đổ xuống Bản Tấu, đường Điện Biên - Lai Châu, vươn tới Bản Nghịu, cánh đồng Nà Lư, nơi đặt trận địa pháo. Từ mờ sáng, bộ đội ta lao động liên tục để mở con đường rộng 3 mét. Mở đến đâu, ngụy trang đến đó. Đến chiều tối, con đường kéo pháo vào đã hoàn thành, nhưng còn có rất nhiều đèo dốc, có cái có độ dốc tới 50 - 60 độ; đường một bên là vách núi, một bên là vực sâu, rất nguy hiểm, pháo dễ rơi xuống vực, có nhiều đoạn rất trống trải.
Ngày 16 tháng 1, Bộ chỉ huy kéo pháo quyết định kéo thử hai khẩu, gồm một khẩu lựu pháo và một khẩu cao xạ, để rút kinh nghiệm. Ban đầu, 20 chiến sĩ bộ binh dùng dây chão kéo một khẩu pháo, pháo thủ đảm nhiệm chèn, nâng càng, đẩy ghìm pháo. Lúc pháo được kéo qua cánh đồng Nà Nham, nơi có địa hình tương đối bằng phẳng, nên khá thuận lợi. Nhưng khi bắt đầu lên dốc thì pháo chỉ nhích dần từng tấc, rất nặng nề, khó khăn. Anh Mậu quyết định tăng số người kéo lên 30, rồi 40... Càng lên cao, số người càng tăng dần, tới 100 và trên 100 người để kéo một khẩu pháo. Trải qua đêm thứ nhất gian khổ, vất vả mà bộ đội ta cũng chỉ kéo pháo di chuyển được một ki-lô-mét đường. Vất vả nhất vẫn là anh em pháo thủ, vừa phải nâng càng, vừa chèn đẩy, ghìm khi lên xuống dốc; nhiều lúc pháo lăn sang phải, sang trái, người va vào cả khối sắt đau điếng. Ngày thứ hai, 17 tháng 1, đường kéo pháo bắt đầu vào sâu trong rừng, tương đối kín nên có thể kéo cả ban ngày, nhưng cũng chỉ kéo được tám khẩu và nhích thêm được một ki-lô-mét. Trước tình hình khó khăn đó, mà thời gian chỉ có bảy ngày, nên sang ngày thứ ba, Bộ chỉ huy kéo pháo quyết định cho anh em nghỉ tại chỗ, họp rút kinh nghiệm, rồi kết luận:
- Công binh phải mở rộng thêm cua, hạ bớt độ dốc, thêm thiết bị tời ở các dốc để kết hợp giữa kéo bằng sức người và quay tời.
- Bộ binh lấy dây cóc rừng buộc móc vào dây chão rồi quàng vào vai cho từng chiến sĩ kéo, vừa tăng lực vừa không vướng vào chân nhau. Khi kéo cần có sự chỉ huy thống nhất, theo hiệu lệnh: "Hai... ba nào - Dô... ta nào".
- Pháo thủ đẽo thêm gỗ chèn pháo cho to hơn, đẽo guốc pháo theo hình con vịt để buộc vào dưới lưỡi cày đuôi càng pháo, nhằm thay thế việc nâng càng mà hai càng pháo vẫn lướt nhẹ trên mặt đường.



