KÉO PHÁO VÀO TRẬN ĐỊA ĐIỆN BIÊN PHỦ
Những ngày tháng gian khổ của bộ đội và dân công
KÉO PHÁO VÀO TRẬN ĐỊA ĐIỆN BIÊN PHỦ
Những ngày tháng gian khổ của bộ đội và dân công
NHÂN VẬT LỊCH SỬ
Bộ đội pháo binh, công binh, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến tham gia kéo pháo, mở đường, bảo đảm hậu cần cho Chiến dịch Điện Biên Phủ.
THỜI KỲ LỊCH SỬ
Tháng 1–2/1954 – Chiến dịch Điện Biên Phủ, giai đoạn kéo pháo vào, kéo pháo ra và chuẩn bị cho phương châm “đánh chắc, tiến chắc”.
PHẦN 1. CON ĐƯỜNG ĐẾN ĐIỆN BIÊN PHỦ
Đầu năm 1954.
Từ những vùng quê của Việt Bắc, Liên khu IV và nhiều địa phương khác, từng đoàn quân lặng lẽ hành quân về Tây Bắc.
Điện Biên Phủ trở thành nơi diễn ra cuộc quyết chiến lớn nhất của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nhưng muốn đánh được Điện Biên Phủ, trước hết phải đưa được pháo binh và hàng vạn tấn vật chất vượt qua núi rừng hiểm trở đến chiến trường.
Đây là một bài toán tưởng như không thể.
Những khẩu pháo nặng hàng tấn.
Những con đường núi nhỏ hẹp.
Những con dốc dựng đứng.
Một bên là núi.
Một bên là vực sâu.
Trong khi đó, máy bay Pháp liên tục trinh sát và đánh phá các tuyến đường lên Tây Bắc.
Để giữ bí mật và tạo bất ngờ, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định mở đường và dùng sức người kéo pháo vào trận địa.
Một nhiệm vụ chưa từng có.
Và hàng nghìn người lính bắt đầu bước vào cuộc chiến âm thầm ấy.
4
Chú thích ảnh: Bộ đội kéo pháo bằng sức người trên tuyến đường vào mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954.
Nguồn tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Báo Quân đội nhân dân.
PHẦN 2. XẺ NÚI, MỞ ĐƯỜNG
Muốn kéo được pháo, trước hết phải có đường.
Gần 5.000 cán bộ, chiến sĩ công binh và bộ binh được huy động để mở một con đường dài khoảng 15km từ khu vực Nà Nhạn, vượt qua núi cao rồi tiến về phía lòng chảo Điện Biên.
Con đường phải được mở trong rừng.
Không được để máy bay Pháp phát hiện.
Ban ngày làm đường.
Ban đêm tiếp tục làm.
Cây rừng được chặt xuống.
Đá được phá.
Những đoạn dốc được san bớt.
Những chỗ trơn trượt phải gia cố.
Có những đoạn đường chạy sát vực sâu.
Có những nơi độ dốc lên tới 40–60 độ.
Những người lính công binh làm việc trong điều kiện thiếu thốn đủ thứ.
Không máy móc hiện đại.
Chỉ có cuốc, xẻng, xà beng, búa và sức người.
Họ hiểu rằng:
Đường chưa xong thì pháo chưa thể vào trận địa.
Vì vậy, dù mệt mỏi, công việc vẫn không dừng lại.
Một con đường xuyên núi dần hình thành.
Con đường ấy sau này được gọi bằng cái tên rất giản dị:
Đường kéo pháo.
5
Chú thích ảnh: Bộ đội công binh xẻ núi, mở đường phục vụ kéo pháo vào mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954.
Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 3. HÀNG TRĂM ĐÔI TAY KÉO MỘT KHẨU PHÁO
Con đường đã mở.
Nhưng thử thách thực sự mới bắt đầu.
Mỗi khẩu pháo nặng hàng tấn.
Có khẩu cần tới 80–100 người kéo, tùy địa hình. Có đơn vị phải huy động tới 120–150 người cho một khẩu pháo ở những đoạn khó.
Những người lính chia thành từng tốp.
Người kéo dây.
Người điều khiển pháo.
Người chèn bánh.
Người dùng tời quay tay.
Người đứng hai bên để giữ cho pháo không trượt khỏi đường.
Khi lên dốc:
“Một, hai… kéo!”
Hàng chục đôi tay cùng căng lên.
Những sợi dây tời rung bần bật.
Cả thân người rạp xuống.
Khẩu pháo nhích lên từng chút.
Có khi sau một nhịp kéo, khẩu pháo chỉ tiến được 20–30cm.
Nhưng không ai được phép buông tay.
Bởi chỉ cần một người buông, sức kéo có thể giảm xuống.
Chỉ cần một người sơ suất, khẩu pháo có thể tụt ngược xuống dốc.
Và phía dưới có thể là vực sâu.
Những đêm kéo pháo cứ thế nối tiếp nhau.
Mồ hôi thấm ướt áo.
Bàn tay phồng rộp.
Chân trượt trên bùn đất.
Nhưng những khẩu pháo vẫn từng bước tiến về phía Điện Biên.
4
Chú thích ảnh: Bộ đội dùng sức người và tời quay tay kéo những khẩu pháo nặng hàng tấn vượt qua địa hình núi rừng hiểm trở.
Nguồn tham khảo: Báo Quân đội nhân dân; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 4. NHỮNG ĐÊM KHÔNG NGỦ
Kéo pháo phải tiến hành chủ yếu vào ban đêm để giữ bí mật.
Ban ngày, những người lính tìm cách nghỉ ngơi.
Nhưng chẳng ai thực sự được ngủ đủ.
Đêm xuống, họ lại tiếp tục.
Có những người vừa đặt lưng xuống đất đã phải bật dậy nhận nhiệm vụ.
Có người đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ.
Có người chân tay trầy xước.
Có người gần như kiệt sức.
Một nhân chứng từng tham gia kéo pháo kể lại rằng sau nhiều ngày, hai hố mắt của anh em trũng sâu vì thiếu ăn, mất ngủ; chân tay rách xước.
Bữa ăn cũng vô cùng đơn giản.
Những người nuôi quân phải cơ động theo đơn vị.
Có lúc mỗi người chỉ được hai nắm cơm ăn với mắm.
Nhưng cứ đến giờ kéo pháo, tất cả lại tập hợp.
Những tiếng hô vang lên giữa rừng:
“Hò dô ta nào!”
Rồi hàng trăm người cùng kéo.
Khẩu pháo nhích lên.
Lại dừng.
Lại chèn bánh.
Lại kéo.
Cuộc chiến với núi rừng không có tiếng súng.
Nhưng cũng có những giọt máu.
Có người ngã xuống vì tai nạn.
Có người hy sinh khi cố giữ khẩu pháo.
Trong số đó có những cái tên mà lịch sử còn nhớ mãi.
Tô Vĩnh Diện.
Nguyễn Văn Chức.
Họ đã trở thành biểu tượng của những người lính kéo pháo.
Chú thích ảnh: Những người lính kéo pháo trong điều kiện ban đêm, địa hình hiểm trở và thiếu thốn trên đường vào Điện Biên Phủ.
Nguồn tham khảo: Báo Quân đội nhân dân; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 5. KHÔNG CHỈ CÓ NHỮNG NGƯỜI LÍNH
Nếu bộ đội kéo pháo thì phía sau họ là một hậu phương khổng lồ.
Hàng vạn dân công hỏa tuyến từ nhiều địa phương cũng hướng về Điện Biên.
Họ mang theo gạo.
Mang muối.
Mang thực phẩm.
Mang đạn dược.
Mang thuốc men.
Có người gánh hàng.
Có người đẩy xe.
Có người dùng xe đạp thồ.
Có người chèo thuyền, đi ngựa thồ hoặc vận chuyển bằng những phương tiện thô sơ.
Theo tổng kết hậu cần chiến dịch, hậu phương đã huy động 261.453 dân công, cùng hơn 20.991 xe đạp thồ và xe thô sơ, hàng nghìn thuyền mảng và ngựa thồ.
Họ cũng phải vượt qua những con đường bị máy bay Pháp đánh phá.
Đường bị bom phá.
Họ sửa.
Cầu bị đánh sập.
Họ dựng lại.
Ban ngày địch đánh.
Ban đêm lại tiếp tục vận chuyển.
Tại đèo Lũng Lô, quân Pháp đã ném xuống gần 12.000 tấn bom, nhưng những đoàn dân công vẫn bám đường.
Có một câu nói rất giản dị mô tả tinh thần ấy:
Địch phá, ta sửa.
Địch phá đoạn này, ta mở đoạn khác.
Cứ như vậy, từng gánh gạo, từng viên đạn, từng khẩu pháo được đưa về phía trận địa.
Chú thích ảnh: Dân công và lực lượng hậu cần vận chuyển lương thực, vũ khí, hàng hóa phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; TTXVN.
PHẦN 6. NHỮNG CHIẾC XE ĐẠP THỒ
Trong câu chuyện hậu cần Điện Biên Phủ, có một hình ảnh đặc biệt:
những chiếc xe đạp thồ.
Những chiếc xe đạp vốn dùng để đi lại, nay được cải tiến thành phương tiện vận tải.
Người dân chằng hàng lên xe.
Có chiếc chở hàng trăm kilôgam.
Rồi họ dắt xe qua những con đường núi.
Lên dốc.
Xuống dốc.
Qua suối.
Qua những đoạn đường bị bom phá.
Không phải ai cũng có thể tưởng tượng được sức người cần bỏ ra để đẩy một chiếc xe chở hàng nặng trên những con đường như vậy.
Nhưng những đoàn xe vẫn nối nhau đi.
Ở phía trước là Điện Biên.
Ở phía sau là quê hương.
Và ở giữa là những con đường đầy bom đạn.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện vẫn lưu giữ nhiều hiện vật gắn với công tác hậu cần Điện Biên Phủ, trong đó có xe đạp thồ, đòn gánh, sọt, gùi, cuốc, xẻng và các dụng cụ mở đường.
Những hiện vật ấy cho thấy một điều:
Điện Biên Phủ không chỉ được đánh bằng súng.
Chiến thắng còn được đưa tới mặt trận bằng đôi vai, đôi chân và sức lao động của hàng vạn con người.
5
Chú thích ảnh: Xe đạp thồ và các dụng cụ vận chuyển được sử dụng trong công tác hậu cần Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 7. KHI PHÁO ĐÃ VÀO TRẬN ĐỊA
Sau nhiều ngày đêm, những khẩu pháo cuối cùng cũng được đưa vào trận địa.
Những người lính tưởng rằng nhiệm vụ gian khổ nhất đã kết thúc.
Nhưng rồi một quyết định lịch sử được đưa ra.
Qua nghiên cứu tình hình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.
Điều đó có nghĩa:
Kéo pháo ra.
Một lần nữa.
Những người lính gần như chết lặng.
Họ vừa mất nhiều ngày đêm đưa pháo vào.
Sức lực gần như cạn kiệt.
Vậy mà bây giờ phải đưa tất cả trở ra.
Con đường kéo pháo lúc này đã bị địch phát hiện.
Máy bay Pháp tăng cường đánh phá.
Đường lại trơn.
Dốc lại cao.
Nhưng mệnh lệnh đã được ban ra.
Những người lính lại nắm lấy dây tời.
Lại ghì vai.
Lại nghiến răng.
Kéo pháo ra.
Và chính trong hành trình ấy, Tô Vĩnh Diện đã hy sinh tại Dốc Chuối khi dùng thân mình cứu khẩu pháo khỏi lao xuống vực.
Đến đầu tháng 2, toàn bộ số pháo được kéo ra an toàn.
Sau đó, bộ đội tiếp tục mở đường cơ giới, xây dựng trận địa kiên cố và đưa pháo vào lại theo phương án mới.
Một lần kéo vào.
Một lần kéo ra.
Rồi lại một lần đưa vào.
Nhưng lần này, những khẩu pháo sẽ nằm trong một thế trận hoàn toàn khác.
4
Chú thích ảnh: Bộ đội kéo pháo ra khỏi trận địa theo quyết định thay đổi phương châm tác chiến; Dốc Chuối là nơi Tô Vĩnh Diện hy sinh khi cứu pháo.
Nguồn tham khảo: Báo Quân đội nhân dân.
PHẦN 8. KÉO PHÁO RA KHÔNG PHẢI LÀ THẤT BẠI
Với những người lính lúc ấy, mệnh lệnh kéo pháo ra ban đầu có thể khiến họ hụt hẫng.
Nhưng về sau, họ mới hiểu:
Kéo pháo ra là để chuẩn bị cho một chiến thắng chắc chắn hơn.
Pháo được đưa về.
Đường mới được mở.
Trận địa mới được xây dựng.
Công sự được đào sâu.
Các khẩu pháo được bố trí trong những trận địa được ngụy trang và bảo vệ tốt hơn.
Tất cả chuẩn bị cho một cuộc chiến lâu dài.
Đến đầu tháng 3, công tác chuẩn bị cơ bản hoàn thành.
Những khẩu pháo lại được đưa vào các trận địa mới.
Lần này không còn là một cuộc hành quân vội vã.
Đó là một thế trận được chuẩn bị kỹ lưỡng.
Ngày 13/3/1954, pháo binh Việt Nam bắt đầu khai hỏa vào Him Lam.
Những khẩu pháo từng được kéo bằng hàng trăm đôi tay nay đồng loạt dội lửa xuống tập đoàn cứ điểm.
7
Chú thích ảnh: Pháo binh Việt Nam khai hỏa vào cứ điểm Him Lam, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 13/3/1954.
Nguồn ảnh: TTXVN; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 9. ĐẰNG SAU MỖI KHẨU PHÁO LÀ HÀNG TRĂM CON NGƯỜI
Khi tiếng pháo Điện Biên vang lên, người ta có thể nhìn thấy những khẩu pháo.
Nhưng phía sau mỗi khẩu pháo là cả một câu chuyện.
Có những người mở đường.
Có những người kéo dây.
Có người chèn bánh.
Có người sửa đường.
Có người vận chuyển đạn.
Có người gánh gạo.
Có người đẩy xe đạp thồ.
Có người nấu cơm.
Có người tải thương.
Và có những người đã nằm lại trên con đường ấy.
Chiến dịch Điện Biên Phủ đã huy động 261.453 dân công, cùng hàng vạn cán bộ, chiến sĩ và lực lượng phục vụ khác. Hậu cần quân đội bảo đảm hơn 16.800 tấn lương thực, thực phẩm và hàng nghìn tấn vũ khí, đạn dược; hậu phương huy động hơn 25.000 tấn gạo cùng nhiều vật chất khác.
Những con số ấy rất lớn.
Nhưng phía sau mỗi con số là một con người.
Một người mẹ.
Một người cha.
Một người vợ.
Một chàng trai.
Một cô gái.
Họ có thể chưa từng biết nhau.
Nhưng cùng hướng về một nơi:
Điện Biên Phủ.
Và cùng chung một mục tiêu:
Tất cả cho tiền tuyến.
Tất cả để chiến thắng.
Chú thích ảnh: Bộ đội, dân công và lực lượng hậu cần góp sức bảo đảm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Nguồn tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; TTXVN.
PHẦN 10. TỪ NHỮNG ĐÔI CHÂN ĐẾN CHIẾN THẮNG
Ngày 7/5/1954, Điện Biên Phủ toàn thắng.
Lá cờ “Quyết chiến – Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries.
Những người lính trên trận địa có thể nhìn thấy chiến thắng.
Nhưng ở phía sau, hàng vạn con người cũng có quyền tự hào.
Những người từng xẻ núi.
Những người từng kéo pháo.
Những người từng gánh gạo.
Những người từng đẩy xe đạp thồ.
Những người từng sửa đường dưới bom.
Họ không đứng trong hầm chỉ huy.
Không phải ai cũng cầm súng.
Nhưng họ đã góp phần tạo nên chiến thắng.
Điện Biên Phủ vì thế không chỉ là câu chuyện của những người trực tiếp chiến đấu.
Đó còn là câu chuyện của một hậu phương đã dồn sức người, sức của cho tiền tuyến.
Một khẩu pháo có thể nặng vài tấn.
Nhưng để khẩu pháo ấy xuất hiện ở Điện Biên, cần hàng trăm con người.
Một người lính ngoài mặt trận cần một bữa cơm.
Để có bữa cơm ấy, phải có người trồng lúa, xay gạo, gánh gạo và đưa gạo qua hàng trăm cây số.
Một viên đạn được bắn ra.
Phía sau nó là cả một hệ thống hậu cần.
Vì vậy, khi nhắc đến Điện Biên Phủ, hãy nhớ rằng:
Chiến thắng được tạo nên từ cả tiền tuyến và hậu phương.
4
Chú thích ảnh: Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 – kết quả của sức mạnh chiến đấu và sự chi viện của hậu phương cả nước.
Nguồn ảnh: TTXVN; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
LỜI KẾT
NHỮNG ĐÔI VAI GÁNH CẢ CHIẾN TRƯỜNG
Có những câu chuyện về Điện Biên Phủ được nhớ bằng tiếng súng.
Có những câu chuyện được nhớ bằng những trận đánh.
Nhưng cũng có một câu chuyện khác lặng lẽ hơn:
Câu chuyện về những người kéo pháo.
Họ không có những cỗ máy hiện đại.
Không có những con đường bằng phẳng.
Không có phương tiện vận tải thuận lợi.
Họ có đôi tay.
Có sợi dây.
Có chiếc tời quay tay.
Có ý chí.
Và có một niềm tin rằng những khẩu pháo nhất định phải đến được trận địa.
Họ kéo pháo lên núi.
Rồi lại kéo pháo xuống.
Có người kiệt sức.
Có người bị thương.
Có người hy sinh.
Nhưng không ai bỏ cuộc.
Phía sau những người lính là hàng trăm nghìn dân công, thanh niên xung phong và người dân hậu phương.
Họ gánh gạo.
Đẩy xe.
Mở đường.
Bắc cầu.
Vận chuyển đạn.
Sửa đường dưới bom.
Và tất cả cùng hướng về Điện Biên.
Ngày hôm nay, con đường kéo pháo năm xưa đã trở thành di tích.
Những chiếc xe đạp thồ trở thành hiện vật.
Những chiếc cuốc, chiếc xẻng, chiếc đòn gánh trở thành chứng nhân lịch sử.
Nhưng nếu nhìn thật kỹ vào những hiện vật ấy, chúng ta sẽ thấy một điều:
Đằng sau mỗi hiện vật là một con người.
Và đằng sau chiến thắng Điện Biên Phủ là hàng vạn, hàng trăm nghìn con người đã góp sức.
Có người trở về.
Có người nằm lại.
Nhưng tất cả đều góp một phần vào ngày 7/5/1954.
Điện Biên Phủ không chỉ được làm nên bằng những phát súng.
Nó còn được làm nên bằng những đôi chân vượt núi, những đôi vai kéo pháo và những gánh gạo của cả một dân tộc.
4
Chú thích ảnh: Di tích đường kéo pháo và những hiện vật lưu giữ ký ức về bộ đội, dân công trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Nguồn tham khảo: Báo Quân đội nhân dân; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.


