Nhưng tôi nghĩ lại sự đóng góp của B2, một chiến trường chủ yếu, không những chỉ là riêng lẻ những trận đánh, những cân gạo, những con đường, những con người đã ngã xuống, mà còn là những cái gì lớn hơn nhiều, có giá trị về chiến lược, nghệ thuật tổ chức, bằng thực tế thúc đẩy quá trình thắng lợi của cuộc chiến tranh, có tính chất góp phần vào chủ trương, đường lối của Trung ương nữa. Cũng không phải chỉ toàn là những chiến thắng hào hùng, mà còn cả những thất bại chua cay tạm thời, từng nơi, từng lúc, vì tất cả đó là sự thật, và là những kinh nghiệm quý báu. Nó là những nốt nhạc không thể thiếu để dựng thành bản giao hưởng anh hùng của thời đại. Vậy thì chỉ ghi lại một số sự việc của những ngày thắng lợi cuối cùng, dù là thắng lợi rất vĩ đại, cũng sẽ là một thiếu sót lớn. Muốn tạo được mùa xuân bừng sáng, không thể không trải qua một mùa đông âm u; muốn có được mùa khô thắng lợi, không thể không trên cơ sở của mùa mưa năm trước. chỉ nói về ngọn mà không nói về gốc thì thật là khó nói, và nói sẽ không đúng.
Vì vây, tôi quyết định ghi lại những gì tôi biết và nhớ về B2 trong toàn bộ cuộc chiến tranh chống Mỹ lâu dài. Đây là một việc không đơn giản, phải mất nhiều thời gian suy nghĩ, tìm tòi tư liệu, gặp lại cán bộ, về lại chiến trường xưa, tìm lại sự thật diễn biến hết sức trung thực... Phải nhờ nhiều anh em góp sức, cộng tác, phải cộng trí nhớ của nhiều đồng chí trên nhiều cương vị, nhiều khu vực chiến trường. nhưng tôi quyết tâm làm vì xem đó là trách nhiệm cuối cùng của mình về cuộc chiến tranh giải phóng, và cũng không thể trút cho ai, đối với B2, vùng đất mà tôi rất yêu quý vì hầu như suốt cuộc đời mình, sống và phục vụ ở đó từ những ngày hoạt động chính trị bí mật trước cách mạng tháng Tám cho tới thắng lợi hoàn toàn, thống nhất Tổ quốc và có lẽ tôi cũng sẽ chôn nằm xuống mãi mãi ở đây.
Tôi chia tập sách của mình thành năm đoạn:
Đoạn 1: Từ hiệp định Genève năm 1954 tới phong trào đồng khởi năm 1960.
Đoạn 2: Từ năm 1961 tới 1965, thời kỳ chống chiến tranh đặc biệt có kết quả.
Đoạn 3: Từ năm 1965 đến năm 1968 – Đánh bại chiến tranh cục bộ của Mỹ.
Đoạn 4: Từ 1969 đến 1973 – chống Việt Nam hóa chiến tranh và đuổi quân Mỹ khỏi Việt Nam.
Đoạn 5: Từ Hiệp định Paris 1973 đến ngày toàn thắng (1973-1975).
Tôi bắt đầu viết về giai đoạn chiến lược cuối cùng, giai đoạn còn đang nóng hổi (đoạn 5) vì nó phù hợp với yêu cầu của nhiều người, đặc biệt là anh em B2. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà« Trả lời #1 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:18:38 am » | Nhưng B2 là gì? Cho đến nay có thể nhiều người cũng chưa rõ lắm. Để tiện bạn đọc dễ hiểu hơn những sự việc ghi lại, thiết tưởng tôi cần nói một vài nét về chiến trường B2.
“B2” là ký hiệu để gọi của một vùng đất và những con người ở phần phía nam tận cùng của Tổ quốc trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ. Cả Miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 chạy về phía Nam, lúc ấy ta chia làm 4 chiến trường – B1 hay thường gọi là Khu 5 gồm những tỉnh ven biển Miền Trung từ Quảng Nam – Đà Nẵng vào đến Phú Khánh ngày nay. B3 là vùng Tây Nguyên bao gồm các tỉnh Gia Lai, Kontum và Đắc Lắc. B4 là Quảng Trị và Thừa Thiên cũ. Và B2 là phần còn lại của Miền Nam từ Tỉnh Gia Nghĩa cũ (một phần của tỉnh Đắc Lắc ngày nay), Lâm Đồng, Thuận Hải chạy vào tới mũi Cà Mau, Côn Sơn, Hà Tiên, Phú Quốc. Nó bao gồm vùng rừng núi bao la, cái đuôi của dãy Trường sơn hùng vĩ. Từ những ngọn núi cao 1.500 – 2.000 mét ở bắc Đà Lạt, Lâm Đồng, hạ thấp dần xuống Miền Đông Nam Bộ. Tiếp ngay theo đó là vùng đồng bằng rộng rãi phì nhiêu, đông dân, vùng lưu vực sông Cửu Long với những căn cứ kháng chiến nổi tiếng của ta từ xưa như Rừng U Minh, Đồng Tháp Mười... Đây là một vùng địa hình bằng phẳng, trống trải, ẩm thấp, ruộng lúa xen kẽ vườn tược, xóm làng bị chia cắt bằng những hệ thống sông lớn như: Đồng Nai, Soài Rạp, Vàm Cỏ, Cửu Long và rất nhiều sông con, kinh rạch. Có khu vực hầu như quanh năm ngập nước, hoặc sáu tháng nước, sáu tháng khô. Có nơi bón mùa đều thiếu nước ngọt. Một bờ biển dài hàng ngàn Kilômét và một thềm lục địa rộng, giàu tài nguyên thiên nhiên, với các cảng biển và cảng sông lớn như Vũng Tàu, Sàigòn, Mỹ Tho, Cần Thơ, Rạch Giá... có lợi thế cho bọn giặc xâm lược từ đại dương vào. Hệ thống đường sá ở Nam bộ phát triển cao nhất trong toàn Miền Nam được Mỹ củng cố xây dựng để đảm bảo và thích hợp với những cuộc hành quân cơ giới của chúng. Thủ đô Sàigòn của ngụy quyền tay sai là thành phố lớn nhất, có lúc lên đến 4 triệu dân; là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế của cả Miền Nam Việt Nam, nằm ngay giữa B2, liên kết với nhiều thành phố lớn khác như Đà Lạt, Phan Thiết, Biên Hòa, Tây Ninh, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá thành một hệ thống căn cứ xuất phát hành quân của Mỹ - Ngụy đánh phá khắp nơi. Đó cũng là trung tâm áp dụng chính sách thực dân kiểu mới, nơi lan truyền cách sống Mỹ sa đọa, nơi tiêu dùng hàng hóa Mỹ và phục vụ cho các đội quân viễn chinh đông đảo và cho lực lượng tay sai. Mỹ ngụy tổ chức Miền Nam thành bốn vùng chiến thuật. Kể từ sông Bến Hải trở vào tính là vùng 1 cho đến vùng 4 ở đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố Sàigòn nằm giữa vùng 3 chiến thuật, tổ chức thành biệt khu Thủ đô, nơi đầu não chỉ huy, là trung tâm bộ máy chiến tranh xâm lược của Mỹ - ngụy.
Chiến trường B2 của ta chiếm khoảng 1/2 đất đai và khoảng 2/3 dân số của toàn Miền Nam, tương ứng với một phần vùng 2 và cả vùng 3 và vùng 4 của địch gộp lại.
Để tiện cho việc chỉ đạo, chỉ huy trong cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt, ta chia B2 thành: Khu 6 (Phần cuối đất Trung bộ), Khu 7 (Miền Đông Nam Bộ), Khu 8 (Miền Trung Nam Bộ), Khu 9 (Miền Tây Nam Bộ) và thành phố Sàigòn – Gia Định(1).
Cũng cần nói thêm là khoảng 3/4 biên giới giữa nước ta và Kampuchia là nằm trên phạm vi B2. Nơi đó có các đường bộ, đường sông nối liền hai nước như các quốc lộ số 1, 22, 13, sông Cửu Long, Sở Thượng, Kinh Vĩnh Tế và các đường, các sông nhỏ khác. Nhân dân hai nước từ xưa quan hệ tốt với nhau trong công tác làm ăn, buôn bán, quen biết, bà con... thường qua lại thuận lợi trên các đường sá sông rạch dọc biên giới. Và cũng từ xưa đến nay số phận hai dân tộc hai bên bờ biên giới khi nào cũng gắn bó nhau, cùng đấu lưng chiến đấu cho hạnh phúc chung của nhau, có vui cùng hưởng, có buồn cùng chia.
Vì vậy mà khiến cho lũ giặc căm tức lồng lộn để rồi mở rộng xâm lược, vươn nanh vuốt vào cả hai đất nước.
Con người B2 ngay thẳng, trung thực, tính tình phóng khoáng, vốn có nguồn gốc ông cha ta xa xưa từ Miền Bắc, Miền Trung thân thiết, có lòng yêu nước nồng nàn; luôn luôn hướng về Bác Hồ muôn vàn kính yêu; hướng về thủ đô Hà Nội, Thăng Long với niềm tin bất diệt:
“Từ thuở mang gươm đi mở nước, “Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
(Thơ Huỳnh Văn Nghệ một chỉ huy quân sự ở Nam bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp).
Con người B2 có niềm tự hào với những tuyền thống quật cường cứu nước, cách mạng từ xưa như các phong trào chống Pháp của Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều, Thủ Khoa Huân, Trương Định, có tâm hồn yêu nước cương trực của Nguyễn Đình Chiểu... với “đám lá tối trời”, Cần Giuộc, Gò Công, với “Mười Tám Thôn Vườn trầu” Hóc Môn, Bà Điểm... B2 còn ôm ấp chiến công hiển hách của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ trong “tiếng sóng Rạch Gầm”, còn lưu luyến thiết tha dấu vết người đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân vị lãnh tụ Hồ Chí Minh anh minh - ở thị xã Phan Thiết, ở Bến nhà Rồng... Rồi bao nhiêu máu của những người đi trước đã đổ trong các phong trào Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940, cách mạng tháng 8 năm 1945... Tất cả những cái ấy luôn luôn nhắc nhở, thôi thúc người dân B2, sẵn sàng đứng lên một khi đã thức tỉnh, hy sinh tất cả vì độc lập, tự do...
* * * Viết những dòng suy, nhớ nay tôi chỉ mong làm tròn nghĩa vụ của một chiến sĩ được may mắn sống và hoạt động ở một thời đại vinh quang của Tổ quốc, của dân tộc, trước hết là nghĩa vụ đối với B2, đúng ra là với những con người của B2 mà tôi hàng yêu mến; những con người từ thành thị đến nông thôn, sống rải rác ở rừng núi, bưng biền hay tập trung ở các khóm phường, làng mạc. Đặc biệt là đối với những bạn bè; người thân; đồng chí; đồng đội, những người đã quen biết cũng như chưa hề quen biết, có quê hương khắp đất nước từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau, dù ngã xuống trên đất B2, đã đem máu của mình nhuộm thấm từng tấc đất B2 để đổi lấy độc lập, tự do, đã hy sinh tất cả cho Bắc Nam một nhà, cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là những con người có công to đối với thắng lợi vĩ đại vừa qua của dân tộc, của Tổ quốc. Đúng, chỉ có họ, những con người không chút tính toán, hiến dâng trọn vẹn cuộc sống của mình là những người xứng đáng nhất cho con cháu nghìn đời sau mãi mãi ghi nhớ công ơn. Nghĩa vụ rất đỗi thiêng liêng ấy, mà cũng là mệnh lệnh của lịch sử, của nhân dân là ghi nhớ lại một cách trung thực, suy nghĩ một cách đúng đắn về những diễn biến, những sự kiện; những chịu đựng và hy sinh cao cả của mảnh đất và con người B2 mà tôi đã chứng kiến, được biết và còn nhớ.
Tất nhiên do sự hiểu biết cũng như trình độ ghi chép có hạn, do phạm vi mỗi bài viết, mỗi tập sách chỉ có thể tập trung nói về một số vấn đề nào thôi, nên tiếc thay tôi không thể nói hết ở đây những sự tích thần kỳ của những con người Việt Nam trên đất B2 đã thực hiện kiên quyết, dũng cảm và sáng tạo sự lãnh đạo và chỉ đạo tài tình của Trung ương Đảng trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài và oanh liệt, đã đóng góp sức lực, tài trí của mình vào cuộc chiến thắng lịch sử. Tôi chỉ mong ghi lại chút ít sự tích ấy trong phạm vi hiểu biết của mình, để đóng góp phần tuy nhỏ của mình với những người còn sống của ngày nay và của cả mai sau. Đó cũng là trả nợ được phần nhỏ nào cho những người đã bỏ mình vì dân tộc, vì giai cấp trên đất B2.
Chính vì trách nhiệm nặng nề như vậy mà tôi đã tự đề ra cho mình một quy định: Viết đúng sự thật hoàn toàn những sự thật có người đã biết cũng có người chưa hề biết, có người thích cũng như có người không. Vì lịch sử khi nào cũng công minh sẽ loai trừ không thương tiếc những gì sai sự thật, không hôm nay thì cũng ngày mai. Tôi mong rằng bạn đọc khắp nơi, nhứt là anh em đã từng hoạt động ở chiến trường B2 góp ý kiến và bổ sung những thiếu sót, những gì chưa đạt. Tôi sẽ rất hãnh diện và hàm ân.
Tôi cũng xin tỏ ở đây lòng cảm động và biết ơn đông đảo các đồng chí, bạn bè đã khuyến khích, đã giúp đỡ; góp ý kiến, cộng tác trên mọi phương diện vô cùng quý báu.
Xin cảm ơn các đồng chí ở các Ban Tổng kết chiến tranh các bộ phận tư liệu của Bộ Quốc phòng, của Quân Khu 7, Quân khu 9, của thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí ở các Ban Chỉ huy Tỉnh đội thuộc B2 cũ. Đặc biệt hai đồng chí thượng tá Nguyễn Viết Tá, đại úy Võ Trần Nhã đã để nhiều công sức sưu tầm tài liệu, liên hệ các địa phương, góp phần xứng đáng vào nội dung tập sách này.
MÙA XUÂN 1980 (1) Những tỉnh trong các khu: - Khu 6: Quảng Đức (Gia Nghĩa), Tuyên Đức (Đàlạt), Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Tuy. - Khu 7: Phước Long, Long Khánh, Phước Tuy (Bà Rịa), Bình Long, Bình Dương (Thủ Dầu Một), Biên Hòa, Tây Ninh, Hậu Nghĩa. - Khu 8: Long An (Tân An), Kiến Tường (Mộc Hóa), Kiến Phong (Sa Đéc), Định Tường (Mỹ Tho), Gò Công, Kiến Hòa (Bến Tre). - Khu 9: Châu Đốc, An Giang (Long Xuyên), Vĩnh Long, Vĩnh Bình (Trà Vinh), Phong Dinh (Cần Thơ), Ba Xuyên (Sóc Trăng), Kiên Giang (Hà Tiên Rạch Giá), Chương Thiện (Bạc Liêu), An Xuyên (Cà Mau). - Đặc khu Sài Gòn – Gia Định. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà« Trả lời #2 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:21:38 am » | CHƯƠNG MỘT MẶT TRẬN MỚI Hàng loạt bom B.52 nổ dữ dội và liên hồi làm rung chuyển các hầm trong Sở chỉ huy Bộ Tư Lệnh Miền. Ngay sau đó, loa phóng thanh treo trên các cành cây vang lên tiếng báo cáo của trực ban canh gác khu vực:
“Chín chiến B.52 chia làm ba tốp thả ba loạt bom ngang qua khu A, giữa B1(1) và B2(2). Tất cả đều an toàn”.
Chúng tôi tiếp tục buổi giao ban. Một cán bộ Tham mưu lại vào báo cáo: “Điện Bộ Tổng Tư lệnh cho biết Hiệp Định Paris đã được ký kết!.”
Bất giác tôi mỉm cười nghĩ về cái phút giao thừa kỳ quặc giữa chiến tranh và hòa bình này – nếu quả thật có hòa bình. Thì ra Mỹ đã tận dụng từng giây cuối cùng của cuộc chiến tranh dài hàng chục năm, với những con quạ sắt B.52 gở bản “thông điệp hòa giải” đầy ý nghĩa (!)
Dầu sao thì tin Hiệp định hòa bình Paris được ký kết cũng làm cho mọi người thở phào nhẹ nhõm. Nét hân hoan lộ rõ trên từng khuôn mặt của người chỉ huy. Những khuôn mặt dày dạn rám nắng, trông ai cũng gày mà khỏe. Đây phải chăng là phần thưởng quý giá cho gần mười tháng nỗ lực chiến đấu liên tục trên toàn chiến trường nhằm mục đích buộc địch phải ký cho được một hiệp định đình chiến, kết thúc một giai đoạn chiến lược.
Chưa bao giờ có đợt hoạt động quân sự kéo dài và ngày càng gắng sức đến oải cả gân cốt như thời gian vừa rồi. Các quân khu đơn vị đều báo cáo về Bộ chỉ huy Miền những thắng lợi đã đạt được, những vị trí mà quân ta đang giành giật từng giờ với địch, nhưng đồng thời cũng không ngớt báo cáo những khó khăn, thiếu quân số, lương thực, đạn dược và đặc biệt là nói lên sự thấm mệt của cán bộ và chiến sĩ. Tư Lệnh Quân khu 9 (Miền Tây Nam Bộ) đã điện đề nghị thẳng thừng với Bộ Tư Lệnh Miền cho lịnh kết thúc ngay chiến cuộc để chấn chỉnh lực lượng. Bộ đội không còn sức để đánh nữa! Nhưng, kẻ địch của ta vô cùng ngoan cố. Chúng đã bị thua đau trên chiến trường, đã bị đuối lý trên bàn hội nghị, đã buộc phải chấp nhận ký kết vào tháng 10, rồi lại tráo trở lật lọng. Thế thì ta phải làm gì? Kết thúc hoạt động, nghỉ, mục tiêu chưa hoàn thành ư? Không! Phải tiếp tục đánh. Ta phải đánh cho chúng phải hiểu ra ý chí của con người cách mạng là thế nào.
Cái khó quyết định là ở những giờ phút như thế này. Ngừng lại, sự việc sẽ đi theo một hướng. Ráng lên chút nữa, giành thêm ít thắng lợi nữa, sẽ tạo ra được một chất lượng mới, sự việc tất yếu sẽ theo một hướng khác. Ta đã làm như vậy. Đã ráng lên một chút, đã giành thêm một ít thắng lợi ở Miền Nam trong tình trạng tưởng như kiệt sức, tưởng như không còn gạo, đạn để tiếp tục đánh. Ta đã vững vàng, thông minh và hiên ngang đánh trả, tiêu diệt hàng loạt B.52 và các loại máy bay khác, mười hai ngày đêm ròng rã ở Hà Nội, Hải Phòng, tưởng như sự việc diễn ra trong truyện thần thoại của con Rồng cháu Lạc xa xưa. Và rõ ràng, ta đã tạo được chất lượng mới: Kẻ địch, tên đế quốc đầu sỏ, nham hiểm và tàn bạo nhất của thời đại đã phải cúi đầu khuất phục. Chúng đã phải ký kết một hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết rút hoàn toàn quân Mỹ và chư hầu ra khỏi Miền Nam Việt Nam, công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.
“... Đánh cho Mỹ chút, đánh cho Ngụy nhào “Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào “Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn”.
Thưa Bác, chỉ thị ấy của Bác năm nào, thể hiện chủ trương tài tình của Đảng, nay chúng con đã hoàn thành được một phần quyết định. Mỹ cút ắt Ngụy sẽ phải nhào và Bắc Nam nhất định sẽ sum họp. Chúng con nguyện làm hết sức mình để hoàn thành nhanh nhất ước mong của Bác.
Đó là ý nghĩ đầu tiên của chúng tôi khi biết chắc Hiệp định Paris đã ký kết.
Bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh đã tạo ra rồi. Một chặng đường dài gay go đã vượt. Xốc lại hành trang, gom thêm sức lực, để bước nốt quãng đường còn lại, có lẽ không kém phần phức tạp khó khăn. Nhưng ta đã nhìn thấy rõ ánh sáng hồng ở chân trời. |
|
|