Nhưng B2 là gì? Cho đến nay có thể nhiều người cũng chưa rõ lắm. Để tiện bạn đọc dễ hiểu hơn những sự việc ghi lại, thiết tưởng tôi cần nói một vài nét về chiến trường B2.
“B2” là ký hiệu để gọi của một vùng đất và những con người ở phần phía nam tận cùng của Tổ quốc trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ. Cả Miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 chạy về phía Nam, lúc ấy ta chia làm 4 chiến trường – B1 hay thường gọi là Khu 5 gồm những tỉnh ven biển Miền Trung từ Quảng Nam – Đà Nẵng vào đến Phú Khánh ngày nay. B3 là vùng Tây Nguyên bao gồm các tỉnh Gia Lai, Kontum và Đắc Lắc. B4 là Quảng Trị và Thừa Thiên cũ. Và B2 là phần còn lại của Miền Nam từ Tỉnh Gia Nghĩa cũ (một phần của tỉnh Đắc Lắc ngày nay), Lâm Đồng, Thuận Hải chạy vào tới mũi Cà Mau, Côn Sơn, Hà Tiên, Phú Quốc. Nó bao gồm vùng rừng núi bao la, cái đuôi của dãy Trường sơn hùng vĩ. Từ những ngọn núi cao 1.500 – 2.000 mét ở bắc Đà Lạt, Lâm Đồng, hạ thấp dần xuống Miền Đông Nam Bộ. Tiếp ngay theo đó là vùng đồng bằng rộng rãi phì nhiêu, đông dân, vùng lưu vực sông Cửu Long với những căn cứ kháng chiến nổi tiếng của ta từ xưa như Rừng U Minh, Đồng Tháp Mười... Đây là một vùng địa hình bằng phẳng, trống trải, ẩm thấp, ruộng lúa xen kẽ vườn tược, xóm làng bị chia cắt bằng những hệ thống sông lớn như: Đồng Nai, Soài Rạp, Vàm Cỏ, Cửu Long và rất nhiều sông con, kinh rạch. Có khu vực hầu như quanh năm ngập nước, hoặc sáu tháng nước, sáu tháng khô. Có nơi bón mùa đều thiếu nước ngọt. Một bờ biển dài hàng ngàn Kilômét và một thềm lục địa rộng, giàu tài nguyên thiên nhiên, với các cảng biển và cảng sông lớn như Vũng Tàu, Sàigòn, Mỹ Tho, Cần Thơ, Rạch Giá... có lợi thế cho bọn giặc xâm lược từ đại dương vào. Hệ thống đường sá ở Nam bộ phát triển cao nhất trong toàn Miền Nam được Mỹ củng cố xây dựng để đảm bảo và thích hợp với những cuộc hành quân cơ giới của chúng. Thủ đô Sàigòn của ngụy quyền tay sai là thành phố lớn nhất, có lúc lên đến 4 triệu dân; là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế của cả Miền Nam Việt Nam, nằm ngay giữa B2, liên kết với nhiều thành phố lớn khác như Đà Lạt, Phan Thiết, Biên Hòa, Tây Ninh, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá thành một hệ thống căn cứ xuất phát hành quân của Mỹ - Ngụy đánh phá khắp nơi. Đó cũng là trung tâm áp dụng chính sách thực dân kiểu mới, nơi lan truyền cách sống Mỹ sa đọa, nơi tiêu dùng hàng hóa Mỹ và phục vụ cho các đội quân viễn chinh đông đảo và cho lực lượng tay sai. Mỹ ngụy tổ chức Miền Nam thành bốn vùng chiến thuật. Kể từ sông Bến Hải trở vào tính là vùng 1 cho đến vùng 4 ở đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố Sàigòn nằm giữa vùng 3 chiến thuật, tổ chức thành biệt khu Thủ đô, nơi đầu não chỉ huy, là trung tâm bộ máy chiến tranh xâm lược của Mỹ - ngụy.
Chiến trường B2 của ta chiếm khoảng 1/2 đất đai và khoảng 2/3 dân số của toàn Miền Nam, tương ứng với một phần vùng 2 và cả vùng 3 và vùng 4 của địch gộp lại.
Để tiện cho việc chỉ đạo, chỉ huy trong cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt, ta chia B2 thành: Khu 6 (Phần cuối đất Trung bộ), Khu 7 (Miền Đông Nam Bộ), Khu 8 (Miền Trung Nam Bộ), Khu 9 (Miền Tây Nam Bộ) và thành phố Sàigòn – Gia Định(1).
Cũng cần nói thêm là khoảng 3/4 biên giới giữa nước ta và Kampuchia là nằm trên phạm vi B2. Nơi đó có các đường bộ, đường sông nối liền hai nước như các quốc lộ số 1, 22, 13, sông Cửu Long, Sở Thượng, Kinh Vĩnh Tế và các đường, các sông nhỏ khác. Nhân dân hai nước từ xưa quan hệ tốt với nhau trong công tác làm ăn, buôn bán, quen biết, bà con... thường qua lại thuận lợi trên các đường sá sông rạch dọc biên giới. Và cũng từ xưa đến nay số phận hai dân tộc hai bên bờ biên giới khi nào cũng gắn bó nhau, cùng đấu lưng chiến đấu cho hạnh phúc chung của nhau, có vui cùng hưởng, có buồn cùng chia.
Vì vậy mà khiến cho lũ giặc căm tức lồng lộn để rồi mở rộng xâm lược, vươn nanh vuốt vào cả hai đất nước.
Con người B2 ngay thẳng, trung thực, tính tình phóng khoáng, vốn có nguồn gốc ông cha ta xa xưa từ Miền Bắc, Miền Trung thân thiết, có lòng yêu nước nồng nàn; luôn luôn hướng về Bác Hồ muôn vàn kính yêu; hướng về thủ đô Hà Nội, Thăng Long với niềm tin bất diệt:
“Từ thuở mang gươm đi mở nước, “Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
(Thơ Huỳnh Văn Nghệ một chỉ huy quân sự ở Nam bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp).
Con người B2 có niềm tự hào với những tuyền thống quật cường cứu nước, cách mạng từ xưa như các phong trào chống Pháp của Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều, Thủ Khoa Huân, Trương Định, có tâm hồn yêu nước cương trực của Nguyễn Đình Chiểu... với “đám lá tối trời”, Cần Giuộc, Gò Công, với “Mười Tám Thôn Vườn trầu” Hóc Môn, Bà Điểm... B2 còn ôm ấp chiến công hiển hách của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ trong “tiếng sóng Rạch Gầm”, còn lưu luyến thiết tha dấu vết người đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân vị lãnh tụ Hồ Chí Minh anh minh - ở thị xã Phan Thiết, ở Bến nhà Rồng... Rồi bao nhiêu máu của những người đi trước đã đổ trong các phong trào Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940, cách mạng tháng 8 năm 1945... Tất cả những cái ấy luôn luôn nhắc nhở, thôi thúc người dân B2, sẵn sàng đứng lên một khi đã thức tỉnh, hy sinh tất cả vì độc lập, tự do...
* * * Viết những dòng suy, nhớ nay tôi chỉ mong làm tròn nghĩa vụ của một chiến sĩ được may mắn sống và hoạt động ở một thời đại vinh quang của Tổ quốc, của dân tộc, trước hết là nghĩa vụ đối với B2, đúng ra là với những con người của B2 mà tôi hàng yêu mến; những con người từ thành thị đến nông thôn, sống rải rác ở rừng núi, bưng biền hay tập trung ở các khóm phường, làng mạc. Đặc biệt là đối với những bạn bè; người thân; đồng chí; đồng đội, những người đã quen biết cũng như chưa hề quen biết, có quê hương khắp đất nước từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau, dù ngã xuống trên đất B2, đã đem máu của mình nhuộm thấm từng tấc đất B2 để đổi lấy độc lập, tự do, đã hy sinh tất cả cho Bắc Nam một nhà, cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là những con người có công to đối với thắng lợi vĩ đại vừa qua của dân tộc, của Tổ quốc. Đúng, chỉ có họ, những con người không chút tính toán, hiến dâng trọn vẹn cuộc sống của mình là những người xứng đáng nhất cho con cháu nghìn đời sau mãi mãi ghi nhớ công ơn. Nghĩa vụ rất đỗi thiêng liêng ấy, mà cũng là mệnh lệnh của lịch sử, của nhân dân là ghi nhớ lại một cách trung thực, suy nghĩ một cách đúng đắn về những diễn biến, những sự kiện; những chịu đựng và hy sinh cao cả của mảnh đất và con người B2 mà tôi đã chứng kiến, được biết và còn nhớ.
Tất nhiên do sự hiểu biết cũng như trình độ ghi chép có hạn, do phạm vi mỗi bài viết, mỗi tập sách chỉ có thể tập trung nói về một số vấn đề nào thôi, nên tiếc thay tôi không thể nói hết ở đây những sự tích thần kỳ của những con người Việt Nam trên đất B2 đã thực hiện kiên quyết, dũng cảm và sáng tạo sự lãnh đạo và chỉ đạo tài tình của Trung ương Đảng trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài và oanh liệt, đã đóng góp sức lực, tài trí của mình vào cuộc chiến thắng lịch sử. Tôi chỉ mong ghi lại chút ít sự tích ấy trong phạm vi hiểu biết của mình, để đóng góp phần tuy nhỏ của mình với những người còn sống của ngày nay và của cả mai sau. Đó cũng là trả nợ được phần nhỏ nào cho những người đã bỏ mình vì dân tộc, vì giai cấp trên đất B2.
Chính vì trách nhiệm nặng nề như vậy mà tôi đã tự đề ra cho mình một quy định: Viết đúng sự thật hoàn toàn những sự thật có người đã biết cũng có người chưa hề biết, có người thích cũng như có người không. Vì lịch sử khi nào cũng công minh sẽ loai trừ không thương tiếc những gì sai sự thật, không hôm nay thì cũng ngày mai. Tôi mong rằng bạn đọc khắp nơi, nhứt là anh em đã từng hoạt động ở chiến trường B2 góp ý kiến và bổ sung những thiếu sót, những gì chưa đạt. Tôi sẽ rất hãnh diện và hàm ân.
Tôi cũng xin tỏ ở đây lòng cảm động và biết ơn đông đảo các đồng chí, bạn bè đã khuyến khích, đã giúp đỡ; góp ý kiến, cộng tác trên mọi phương diện vô cùng quý báu.
Xin cảm ơn các đồng chí ở các Ban Tổng kết chiến tranh các bộ phận tư liệu của Bộ Quốc phòng, của Quân Khu 7, Quân khu 9, của thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí ở các Ban Chỉ huy Tỉnh đội thuộc B2 cũ. Đặc biệt hai đồng chí thượng tá Nguyễn Viết Tá, đại úy Võ Trần Nhã đã để nhiều công sức sưu tầm tài liệu, liên hệ các địa phương, góp phần xứng đáng vào nội dung tập sách này.
MÙA XUÂN 1980 (1) Những tỉnh trong các khu: - Khu 6: Quảng Đức (Gia Nghĩa), Tuyên Đức (Đàlạt), Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Tuy. - Khu 7: Phước Long, Long Khánh, Phước Tuy (Bà Rịa), Bình Long, Bình Dương (Thủ Dầu Một), Biên Hòa, Tây Ninh, Hậu Nghĩa. - Khu 8: Long An (Tân An), Kiến Tường (Mộc Hóa), Kiến Phong (Sa Đéc), Định Tường (Mỹ Tho), Gò Công, Kiến Hòa (Bến Tre). - Khu 9: Châu Đốc, An Giang (Long Xuyên), Vĩnh Long, Vĩnh Bình (Trà Vinh), Phong Dinh (Cần Thơ), Ba Xuyên (Sóc Trăng), Kiên Giang (Hà Tiên Rạch Giá), Chương Thiện (Bạc Liêu), An Xuyên (Cà Mau). - Đặc khu Sài Gòn – Gia Định. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà« Trả lời #2 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:21:38 am » | CHƯƠNG MỘT MẶT TRẬN MỚI Hàng loạt bom B.52 nổ dữ dội và liên hồi làm rung chuyển các hầm trong Sở chỉ huy Bộ Tư Lệnh Miền. Ngay sau đó, loa phóng thanh treo trên các cành cây vang lên tiếng báo cáo của trực ban canh gác khu vực:
“Chín chiến B.52 chia làm ba tốp thả ba loạt bom ngang qua khu A, giữa B1(1) và B2(2). Tất cả đều an toàn”.
Chúng tôi tiếp tục buổi giao ban. Một cán bộ Tham mưu lại vào báo cáo: “Điện Bộ Tổng Tư lệnh cho biết Hiệp Định Paris đã được ký kết!.”
Bất giác tôi mỉm cười nghĩ về cái phút giao thừa kỳ quặc giữa chiến tranh và hòa bình này – nếu quả thật có hòa bình. Thì ra Mỹ đã tận dụng từng giây cuối cùng của cuộc chiến tranh dài hàng chục năm, với những con quạ sắt B.52 gở bản “thông điệp hòa giải” đầy ý nghĩa (!)
Dầu sao thì tin Hiệp định hòa bình Paris được ký kết cũng làm cho mọi người thở phào nhẹ nhõm. Nét hân hoan lộ rõ trên từng khuôn mặt của người chỉ huy. Những khuôn mặt dày dạn rám nắng, trông ai cũng gày mà khỏe. Đây phải chăng là phần thưởng quý giá cho gần mười tháng nỗ lực chiến đấu liên tục trên toàn chiến trường nhằm mục đích buộc địch phải ký cho được một hiệp định đình chiến, kết thúc một giai đoạn chiến lược.
Chưa bao giờ có đợt hoạt động quân sự kéo dài và ngày càng gắng sức đến oải cả gân cốt như thời gian vừa rồi. Các quân khu đơn vị đều báo cáo về Bộ chỉ huy Miền những thắng lợi đã đạt được, những vị trí mà quân ta đang giành giật từng giờ với địch, nhưng đồng thời cũng không ngớt báo cáo những khó khăn, thiếu quân số, lương thực, đạn dược và đặc biệt là nói lên sự thấm mệt của cán bộ và chiến sĩ. Tư Lệnh Quân khu 9 (Miền Tây Nam Bộ) đã điện đề nghị thẳng thừng với Bộ Tư Lệnh Miền cho lịnh kết thúc ngay chiến cuộc để chấn chỉnh lực lượng. Bộ đội không còn sức để đánh nữa! Nhưng, kẻ địch của ta vô cùng ngoan cố. Chúng đã bị thua đau trên chiến trường, đã bị đuối lý trên bàn hội nghị, đã buộc phải chấp nhận ký kết vào tháng 10, rồi lại tráo trở lật lọng. Thế thì ta phải làm gì? Kết thúc hoạt động, nghỉ, mục tiêu chưa hoàn thành ư? Không! Phải tiếp tục đánh. Ta phải đánh cho chúng phải hiểu ra ý chí của con người cách mạng là thế nào.
Cái khó quyết định là ở những giờ phút như thế này. Ngừng lại, sự việc sẽ đi theo một hướng. Ráng lên chút nữa, giành thêm ít thắng lợi nữa, sẽ tạo ra được một chất lượng mới, sự việc tất yếu sẽ theo một hướng khác. Ta đã làm như vậy. Đã ráng lên một chút, đã giành thêm một ít thắng lợi ở Miền Nam trong tình trạng tưởng như kiệt sức, tưởng như không còn gạo, đạn để tiếp tục đánh. Ta đã vững vàng, thông minh và hiên ngang đánh trả, tiêu diệt hàng loạt B.52 và các loại máy bay khác, mười hai ngày đêm ròng rã ở Hà Nội, Hải Phòng, tưởng như sự việc diễn ra trong truyện thần thoại của con Rồng cháu Lạc xa xưa. Và rõ ràng, ta đã tạo được chất lượng mới: Kẻ địch, tên đế quốc đầu sỏ, nham hiểm và tàn bạo nhất của thời đại đã phải cúi đầu khuất phục. Chúng đã phải ký kết một hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết rút hoàn toàn quân Mỹ và chư hầu ra khỏi Miền Nam Việt Nam, công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.
“... Đánh cho Mỹ chút, đánh cho Ngụy nhào “Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào “Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn”.
Thưa Bác, chỉ thị ấy của Bác năm nào, thể hiện chủ trương tài tình của Đảng, nay chúng con đã hoàn thành được một phần quyết định. Mỹ cút ắt Ngụy sẽ phải nhào và Bắc Nam nhất định sẽ sum họp. Chúng con nguyện làm hết sức mình để hoàn thành nhanh nhất ước mong của Bác.
Đó là ý nghĩ đầu tiên của chúng tôi khi biết chắc Hiệp định Paris đã ký kết.
Bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh đã tạo ra rồi. Một chặng đường dài gay go đã vượt. Xốc lại hành trang, gom thêm sức lực, để bước nốt quãng đường còn lại, có lẽ không kém phần phức tạp khó khăn. Nhưng ta đã nhìn thấy rõ ánh sáng hồng ở chân trời.
(1) Bộ tư lệnh Miền. (2) Bộ Tham Mưu Miền. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà« Trả lời #3 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:27:11 am » | * * * Một ngày đầu tuần tháng giêng 1973, trong Sở chỉ huy Miền, tại gian nhà hầm giữa khu rừng căn cứ, không khí nhộn nhịp sôi nổi. Chúng tôi đang theo dõi tình hình chiến trường, đơn vị, nhưng trọng tâm là khẩn trương bàn kế hoạch và biện pháp thi hành hiệp định Paris một cách nghiêm túc, có hiệu quả. Còn bao nhiêu việc phải làm: nhanh chóng chấn chỉnh lực lượng; cảnh giác với kẻ địch mà chúng tôi đã hiểu biết tường tận từ lâu... Bỗng một cán bộ tham mưu vào trao cho đồng chí Năm Ngà(1) – tham mưu trưởng Miền lúc ấy, một bức điện hòa tốc. Đồng chí Năm Ngà nhẩm đọc lướt nhanh qua bức điện, với vẻ mặt nghiêm nghị, không phân tích được là vui mừng hay lo lắng, trao cho tôi. Nội dung bức điện: Trung ương chỉ định tôi làm Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam trong ban Liên hiệp quân sự 4 bên ở Sàigòn. Ồ! Thật là đột ngột. Trung ương Cục, Quân ủy Miền đã xếp đặt từ trước thành phần của Đoàn và đã được Trung ương đồng ý rồi cơ mà, nay bỗng nhiên có sự thay đổi Trưởng đoàn vào giờ chót. Và chỉ còn vài ba hôm nữa tôi phải có mặt ở Sàigòn!
Trong đời chiến sĩ suốt mấy chục ăn, tôi đã thường gặp biết bao sự việc bất ngờ, trên chiến trường, trong công việc, ở từng con người, của bạn cũng như của thù, nhưng lần này, bất ngờ đến với tôi đầy thú vị và cũng đầy lo lắng. Lo lắng vì công việc quá mới đối với tôi, và gấp quá, phải khăn gói lên đường ngay trong lúc tôi chưa kịp có thời giờ hình dung được công việc, nói gì đến chuẩn bị mọi thứ cho mặt trận đấu tranh mới, hoàn toàn không giống như trên chiến trường. Tuy vậy, trường hợp đột ngột trong công tác mà cấp trên giao cho tôi như vậy không là lần thứ nhất. Tôi đã quen rồi. Tin ở lãnh đạo của trên, tin ở các đồng chí cộng sự, tin ở mình, tôi vẫn bình tĩnh nhận lãnh trách nhiệm. Thực ra trong trường hợp này phần thú vị giành cho tôi nhiều hơn. Sàigòn thân yêu của tôi! Đã lâu lắm rồi từ hồi mồ ma thực dân Pháp, tôi đã sống, hoạt động cách mạng sôi nổi, đã thắng lợi và cũng đã từng nếm mùi thất bại ở đây, đã chiến đấu và phải xa thành phố mấy chục năm nay, giờ đây trở về trong sự theo dõi của đồng bào, đồng chí và trong vòng vây dày đặc của kẻ địch. Những đường phố, chợ búa, nhà máy, những xóm lao động nghèo, quen thân xưa kia giờ đây, chắc chắn đã thay đổi, nhưng có còn giữ chăng những kỷ niệm của những người con Sàigòn, như tôi, quyết tâm ra đi để rồi quyết tâm trở về trong một ngày nắng ấm. Đã một lần rồi, tôi đã cố trở về nhưng chưa đạt và lần này nữa, chưa phải là lần trở về hoàn tất, nhưng vẫn đầy thú vị như trong một giấc mơ đẹp. Trong một phút bao nhiêu ảnh tưởng tượng Sài gòn, xưa có, nay có, diễn qua đầu tôi như một cuộn phim. Thấy tôi ngồi im, đồng chí Mười Khang(2) nhắc:
- Thế nào? Nhận nhiệm vụ đấy chứ: Chúc mừng nhé!
Thế là đồng chí đến bắt tay và ôm hôn tôi, căn phòng tức thì vang lên mỗi người một câu chúc mừng, gởi gắm, rộn rã tiếng cười vui, không còn là không khí của buổi họp công tác nữa.
Tôi trao đổi vào câu với anh Mười Khang rồi xin phép đi chuẩn bị cho cuộc hành trình vào Sàigòn. Mọi việc ở nhà anh Mười Khang đảm trách.
Về đến nhà riêng của mình, nhìn xung quanh cảnh vật quen thuộc từ bao năm, tôi bỗng chốc xúc động với sự tạm biệt. Một cơn gió nhẹ lướt vào, phảng phất hương vị ngọt ngào của muôn loài hoa lá rừng xanh. Trên cánh đồng ruộng hẹp trải dài trước nhà, dọc theo thung lũng, từng đàn chim nhỏ vội vã lượm nốt những hạt lúa còn rơi rớt của vụ mùa sản xuất tự túc vừa qua. Dòng suối róc rách men theo đồng ruộng, len lỏi dưới những rặng cây xơ xác vì bom đạn, mới nhút một ít mần non mơn mởn. Mọi cảnh vật hôm nay dường như cũng đang có một tâm hồn dào dạt, tươi vui, quyến luyến. Không biết tôi còn ngồi trầm ngâm như vậy mấy phút nữa nếu như không có các anh Chín Vinh(3) và Hai Lê(4) phó chính ủy và chủ nhiệm chính trị Bộ Tư Lệnh Miền bước vào, kéo tôi về thực tại.
- “... Anh cần gì nữa, anh đã bằng lòng với tổ chức và thành phần Ban liên hợp của anh chưa? – Anh Chín Vinh hỏi.
Tôi đồng ý giữ nguyên tất cả những gì đã được sắp xếp và chỉ yêu cầu cho thêm tôi đồng chí Tư Bốn(5) Đồng chí là một cán bộ tình báo, anh hùng quân đội, đã ở trong Sàigòn hơn ba năm và mới ra căn cứ mấy tháng nay sau khi đã có triệu chứng bị lộ. Đồng chí rất thạo Sàigòn, rành từng đường phố, biết nhiều nhân vật thuộc vài giới đô thành. Ngoài việc giúp tôi một số việc đồng chí là người lái xe của tôi nếu địch đồng ý để ta tự lo người lái.
(1) Tức Thiếu tướng: Nguyễn Minh Châu. (2) Tức Đại Tướng Hoàng Văn Thái – lúc ấy là Trung tướng. (3) Tức Thiếu tướng Trần-Độ. (4) Thiếu tướng Lê-Văn-Tưởng. (5) Thượng Tá Nguyễn-Hữu-Trí. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà« Trả lời #4 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:30:31 am » | Anh Hai Lê lại nhắc:
- Trung ương còn hỏi anh lấy tên gì điện ngay ra để kịp báo qua Paris, phái đoàn ta cần chuyển cho Mỹ Ngụy.
Từ lâu tôi cũng như mọi người, có dùng tên thật bao giờ đâu mà thường dùng bí danh và thỉnh thoảng lại thay đổi nhằm gây khó khăn phần nào cho sự theo dõi của địch, giữ bí mật cho hoạt động của ta. Mỗi giai đoạn dùng một cái tên cho một công tác nào đó là chuyện thông thường của chúng tôi trong chiến tranh. Giờ đây, trước một nhiệm vụ mới, tôi xuất hiện mặt đối mặt với đối phương, tất nhiên phải lấy một cái tên nào đó. Hầu như không suy nghĩ, tôi lấy ngay tên “Nguyễn Việt Châu” – tên của người em ruột vô cùng thân thiết đã hy sinh năm 1969 trong lúc đang chủ trì cuộc họp Đảng ủy thị xã Cần Thơ. Hai anh em chúng tôi đã cùng sống ở Sàigòn, cùng tham gia hoạt động cách mạng bí mật thời thuộc Pháp ở đây, cùng ra khỏi nhà tù Khám lớn của Pháp, cùng tham gia khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, cùng đi kháng chiến từ Sàigòn thân yêu, nay tôi trở về thành phố này tự nhiên nhớ đến người em yêu quý, người đồng chí chết sống có nhau, được mang cái tên không lúc nào quên này thì sung sướng biết mấy. Nhưng rồi một hôm trong bữa ăn bình thường của Bộ Tư Lệnh Miền có mặt cả anh Bảy Cường(1) tôi mới sự nhớ ra rằng tôi về Sàigòn, không như một người xa lạ mà lại mang một cái tên khác thì thực là bất tiện. Vì nhân dân Sàigòn hẳn nhiều người chưa thể quên những đứa con đã ra đi kháng chiến từ những năm nào và từ ấy đã gởi gắm vào đó niềm tin và hy vọng. Và kẻ địch không ít người đã từng biết tôi ví như Trần Thiện Khiêm thủ tướng Ngụy quyền, Lâm Văn Phát, thiếu tướng Ngụy và một số tướng khác. Sau khi tốt nghiệp trường quân sự Đà Lạt của Pháp, họ đã ra Đồng Tháp xin đi kháng chiến năm 1947. Là tư lệnh Quân khu 8 lúc ấy, tôi đã thu nhận, cho họ đi học và tập sự ở trường quân chính quân khu. Nhưng rồi không chịu được gian khổ, không có tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, nên họ lại trốn về đầu hàng Pháp trở lại, tiếp tục phục vụ chủ Pháp rồi chủ Mỹ cho đến nay. Ngay bọn Mỹ có lẽ cũng đã có hàng chục tấm ảnh của tôi. Như vậy tốt nhất dùng tên từ trước mà bạn, thù ai cũng đã biết. Các anh trong Trung ương Cục và Quân ủy Miền đều đồng ý. Thế là lại đề nghị Trung ương chấp thuận và điện qua Paris để thông báo cho đối phương: Trưởng Đoàn đại diện chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam là Trung tướng Trần-Văn-Trà.
Chỉ còn một ít thời gian, tôi vội phác qua kế hoạch chuẩn bị mọi mặt cho công tác mới, kiểm tra lại tổ chức của Đoàn, bàn kỹ với anh Ba Trần(2) về nhiệm vụ, về người, về tài liệu phương tiện, đặc biệt về thông tin liên lạc, dự kiến các tình huống, quyết định các biện pháp và giao cho anh Ba Trần, phó đoàn, thay tôi điều khiển mọi công việc thực hiện.
Anh Ba Trần quê Hóc Môn sông từ nhỏ ở Sàigòn, đã đi kháng chiến từ những ngày đầu chống Pháp năm 1945, là Tham mưu phó Miền, đặc biệt phụ trách tổ chức và điều khiển đoàn tình báo chiến lược. Anh thạo Sàigòn, hiểu biết nhiều về địch, tôi tin ở khả năng của anh và nghĩ có lẽ địch cũng sẽ nể nang anh do dáng người khỏe, trắng mập, có bề thế và chững chạc.
Còn tôi thì họp với Bộ Tư Lệnh Miền có các cơ quan Tham ưu, chính trị, hậu cần... dự, bàn sâu cụ thể về mọi biện pháp phối hợp đấu tranh giữa bàn hội nghị và trên chiến trường. Tôi nhấn mạnh trên bàn hội nghị 4 bên ở Sàigòn, kẻ địch phải kiêng nể chúng tôi, chúng tôi có giành được thắng lợi nào trong việc triển khai thực hiện Hiệp định, thì đó chủ yếu là do sức mạnh của bộ đội ta trên chiến trường, do uy thế của các anh bên ngoài này là chính. Chúng tôi hứa sẽ xứng đáng là những người đại diện của các lực lượng võ trang nhân dân giải phóng Miền Nam anh hùng ngay giữa thủ đô của địch và cũng là giữa lòng đồng bào thân yêu của ta.
(1) Tức đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị bí thư Trung ương Cục. (2) Thiếu tướng Trần-Văn-Danh. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà« Trả lời #5 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:31:49 am » | 28-1-73 là ngày mà chúng tôi phải có mặt tại Sàigòn. Đã hẹn giờ cho Mỹ đưa trực thăng đến đón chúng tôi ở Thiện Ngôn, một địa điểm nằm về phía Bắc Tây Ninh, ngay trên quốc lộ 22. Thiện Ngôn trước kìa có một lõm dân cư nhỏ sống nghề rừng. Trong chiến tranh, Mỹ đã đuổi hết dân và xây dựng ở đây thành một cứ điểm cho một chiến đoàn Mỹ đóng quân chung quanh. Đầu năm 1972 - lúc này quân ngụy đã thay thế cho Mỹ - Thiện Ngôn là hướng thứ yếu của chiến dịch “Nguyễn Huệ”(1). Trong chiến dịch ta đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm này. Cho nên Thiện Ngôn lúc ấy chỉ là một bãi chiến trường cũ, hoang vắng, cây cối cháy trụi, mặt đất, mặt đường loang lổ hố bom đạn, xác tăng, thiết giáp, pháo, xe vận tải Mỹ ngổn ngang đây đó. Chỉ còn lại đường băng sân bay là tạm xử dụng được chờ trực thăng. Sau khi báo cho địch ngày giờ đón, chúng tôi phái một tổ trinh sát đến tại Thiện Ngôn, dựa vào hầm hố cũ sửa sang lại thành công sự vững chắc, ở đây chờ địch, trước, trong và sau giờ hẹn. Anh em tổ nay thường xuyên cứ 15 phút điện cho chúng tôi biết mọi tình hình diễn biến tại đây. Trong lúc đó một đoàn cán bộ, với đủ phương tiện, thực sự chuẩn bị điểm xuất phát của Đoàn ở sân bay Lộc Ninh. Và toàn Đoàn chúng tôi ung dung tổ chức ăn tết Quý Sửu trước. Chúng tôi biết rằng đến Sàigòn là phải khẩn trương bắt tay vào việc nên mặc dầu còn 4, 5 ngày mơi tới Tết âm lịch, chúng tôi tranh thủ lúc còn “ở nhà”, vùng tự do giải phóng của ta, cùng nhau hưởng một cái tết dân tộc đậm đà tình nghĩa người đi kẻ ở. Ăn trết trước! Âu cũng chỉ là lặp lại một sự việc đã diễn ra đôi lần trong lịch sử chiến đấu của dân tộc ta. Quảng Trung – Nguyễn Huệ đã khao quân ăn tết trước, Tết Kỷ Dậu (1789), tại điểm điểm tập kết quân ở Tam Điệp để rồi tiến về Thăng Long, đại phá quân Mãn Thanh làm nên chiến công hiển hách Đống Đa và chấm dứt vĩnh viễn ngay từ đó sự đô hộ của kẻ thù phương Bắc trên đất nước ta. Mùa Xuân năm 1968 toàn Miền Nam cũng đã ăn Tết trước, Tết Mậu Thân, để rồi xông lên tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm kinh hoàng Nhà Trắng, làm mất vía Lầu Năm góc và buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào đàm phán với ta ở Paris, và rồi kết thúc hội nghị dài dằng dặc vào mùa Xuân này. Mùa Xuân này, Xuân Quý Sửu, chúng tôi lại ăn tết trước để vào tận giữa sào huyệt của quân thù đòi chúng thi hành đúng đắn Hiệp định và xem chúng còn dở trò gì, chúng thực sự muốn gì.
Giữa căn nhà hầm của Bộ Tư Lệnh Miền, bữa cơm Tết đậm đà hương vị. Không có gì thịnh soạn lắm nhưng cũng có bánh tét và cả bánh chưng, có thịt heo tự túc lại có thịt heo rừng, có dưa hấu và có rượu mùi, có sản phẩm tại địa phương lại có cả quà từ Hà Nội. Các anh bên Trung ương Cục, Mặt trận, Chính phủ, các đồng chí trong Bộ tư Lệnh Miền, đại diện các cơ quan đoàn thể và cả phóng viên Báo quân giải phóng... đã đến dự cùng các thành viên trong đoàn chúng tôi. Thật là thân tình và ấm cúng. Niềm vui tỏa lên nét mặt mọi người. Niềm vui tràn lên từng ly rượu. Chúng tôi chúc nhau thắng lợi, hẹn ngày gặp lại rực rỡ hơn hôm nay, chúc thành công cả trên bàn hội nghị, cả trên bãi chiến trường. Vào giữa bữa cơm tết, câu chuyện đang râm ran thì chúng tôi nhận được bức điện từ Thiện Ngôn: “Đúng giờ hẹn, không có trực thăng Mỹ đến đón Đoàn mà có 2 phi cơ địch bay lượn vài vòng, thả một số loạt bom quanh sân bay. Mảnh bom cùng mảnh xác tăng thiết giáp bay tung tóe ngay quanh hầm chúng tôi. Sau đó yên tịnh”. Mọi người lại rót rượu và cùng nâng cốc chúc sức khỏe của chúng tôi trong Đoàn, chúc mừng sự khôn ngoan và cảnh giác của chúng ta, chúc mừng sốt dẻo một trận thắng đầu tiên của Đoàn trước sự phản trắc đê hèn của Mỹ Ngụy. Câu chuyện trong bữa cơm càng thêm giòn giã, qua bàn luận về sự kiện Thiện Ngôn vừa rồi, về khả năng lật lọng của Mỹ, ngụy đối với Hiệp định Paris, sự phức tạp trong nhiệm vụ của chúng tôi, cũng như trong công tác ở chiến trường. Mặc dù vậy ở mọi người hôm ấy đều nung nấu một niềm tin mãnh liệt, niềm tin tất thắng, bất cứ trong tình huống nào. Ở mỗi cặp mắt ánh lên sức sống rực rỡ của mùa Xuân. Ngoài trời, không khí khô ráo, mắt mẻ dễ chịu. Khắp nơi, dọc mọi nẻo đường, men dài các trảng màu trắng phơ phới của hoa ngành ngạnh, xen lẫn màu vàng óng ả của mai rừng. Vùng căn cứ năm này Xuân về cũng sớm, cảnh vật như cùng đua nhau hưởng ứng niềm vui thắng lợi.
Lộc Ninh, một thị trấn đông dân và sung túc trong vùng giải phóng Miền Đông Nam Bộ, nằm cách Sàigòn 100km ngay trên quốc lộ 13, chạy lên Kampuchia, rồi Lào. Quá về về mạn Bắc là quốc lộ 14 cũ đi lên Ban Mê Thuột – Tây Nguyên và về mạn Nam là đường 17, nối với vùng căn cứ Bắc Tây Ninh của ta. Từ khi được giải phóng, tháng 4 năm 1972, Lộc Ninh trở thành một vị trí quân sự quan trọng làm lo lắng cho quân địch phòng thủ Sàigòn và là một trung tâm chính trị của vùng giải phóng B2. Đất Lộc Ninh vùng đất đỏ phì nhiêu thích hợp với cỏ cây miền nhiệt đới, với rừng cao su bạt ngàn từ thời thực dân Pháp để lại, sum suê những vườn cây ăn trái nào sầu riêng, chôm chôm, xoài, vú sữa… với hàng trăm mẫu tiêu và cà phê có giá trị. Lộc Ninh trước đây vốn là một huyện lỵ thuộc bỉnh Bình Long, một cứ điểm kiên cố nằm trong hệ thống phòng thủ ngoài cùng của Sàigòn do quân đoàn 3 ngụy phụ trách. Trong chiến dịch “Nguyễn Huệ” của ta, đây là hướng chính, là điểm then chốt nhất cần phải thanh toán trên vòng đai phòng ngự tuyến ngoài của địch. Nơi đây không những ta đã tiêu diệt cứ điểm kiên cố cấp chiến đoàn của địch mà còn diệt nhiều trung đoàn xe tăng, thiết giáp nhiều chiến đoàn sừng sỏ của quân đoàn 3 ngụy, bắt sống nhiều tù binh, nhiều sĩ quan trong đó có tên đại tá Vĩnh mà sau này vì nhân đạo, vì thiện chí ta đã trả lại cho Mỹ Ngụy. Chính vì vậy mà Lộc Ninh trở thành biểu tượng chiến thắng của ta, mối nhục thất bại của địch. Ta muốn đối phương đưa trực thăng ra tận đây đón phái đoàn ta để chúng luôn nhớ đến đòn khủng khiếp ấy và từ địa điểm vinh quang này, Đoàn ta hiên ngang đi vào Thủ Đô Ngụy.
(1) Chiến dịch tiến công của ta năm 1972 miền Đông Nam Bộ. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà« Trả lời #6 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:33:56 am » | Ngay sau khi chúng đã phản trắc bằng cách ném bom vào điểm hẹn Thiện Ngô, ta liền kịch liệt phản đối chúng và hẹn lại ngày đón ta ở Lộc Ninh này. Một lần đánh hụt nhục nhã, hẳn một lần chúng phải tỉnh ngộ với ngón cao tay của đối phương. Ta mong chúng không còn dám dở trò dơ bẩn nào nữa, tuy ta vẫn có đủ biện pháp đề đề phòng bởi ta đã có bản chất kẻ địch không bao giờ thay đổi. Sau khi ném bom Thiện Ngôn nhằm diệt Đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban liên hiệp quân sự Trung ương, đã bị phản đối, chúng lại cho quân càn quét đánh phá ném bom các điểm hẹn đón các đoàn đại biểu ta ở các Ban liên hiệp quân sự khu vực Pleiku, Mỹ Tho, ở các tổ liên hiệp quân sự địa phương Phú Bài, Đà Lạt, Kontum, Tân An. Chúng luôn luôn lợi dụng từng trường hợp nhỏ, bất chấp lẽ phải, bất chấp các điểu khoản của hiệp định, dở mọi mưu mô thủ đoạn hòng tiêu diệt chúng ta, từng người, từng thôn xóm, nếu có thể. Mỗi lần như vậy, chúng tôi lại kích liệt phản đối chúng ngay trong các kỳ họp 4 bên ở Sàigòn và chúng lại xin lỗi, đổ cho bọn bảo an địa phương, hứa sẽ sửa trị. Chúng tôi thừa biết là chúng hứa suông cho qua chuyện. Những sự việc ban đầu đó buộc chúng tôi phải suy nghĩ rằng Mỹ Ngụy đã có kế hoạch phá hoại hiệp định Paris từ việc nhỏ đến việc lớn.
Phải chăng lịch sử lại diễn lại: Pháp đã bị thua nặng phải ký hiệp định Genève 1954 để rồi cùng với Mỹ ra sức phá bỏ không thi hành hiệp định; ngày nay Mỹ, Ngụy bị đòn nặng phải ký hiệp định Paris rồi lại dở trò phá bỏ hiệp định lần này nữa? Dầu sao thì chúng ta là những người đã có kinh nghiệm. Chúng ta đánh, và thương vong, để có được một hiệp định có lợi cho cách mạng. Chúng ta sẽ ra sức đấu tranh để thi hành mọi điều khoản của hiệp định. Vì độc lập tự do của dân tộc, chúng ta sẵn sàng hy sinh chiến đấu đến cùng, đồng thời chúng ta cũng đưa ra bàn tay hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu vớt những người đã lầm đường lạc lối. Nhưng, với kinh nghiệm xương máu đã qua, chúng ta không khờ khạo để tin rằng kẻ địch của ta sẽ thành thật thi hành hiệp định, do đó chúng ta không hề ngạc nhiên về những lật lọng này. Và chúng ta đã có sẵn hai kế hoạch cho hai tình huống, có thể diễn biến: một là do ta đấu tranh có kết quả, do áp lực của nhân dân ta và nhân dân thế giới, kẻ địch buộc phải thi hành đúng hiệp định Paris; hai là chúng lại phá bỏ hiệp định. Tùy ở kẻ địch. Ta nỗ lực cho tình huống một. Nhưng ta cũng sẵn sàng đối phó với tình huống hai.
Ngày 1-2-1973 đúng giờ hẹn, một đoàn trực thăng Mỹ, do một trung tá Mỹ chỉ huy, có sĩ quan ngụy đi theo, bay đúng theo đường bay và tầm cao do ta quy định, lượn một vòng trên vùng trời Lộc Ninh rồi lần lượt hạ cánh theo đội hình hàng dọc thứ tự từ đầu Bắc sân bay. Trong khi bay trên trời hẳn chúng đã nhìn rõ sân bay, phố xá, nhưng quan trọng hơn, chúng còn nhìn rõ hàng loạt các trận địa phòng không và xe tăng, bố trí nhiều vòng xa xa quanh thị trấn, sẵn sàng tư thế đối phó với những trò phản trắc, nếu có. Hôm ấy thị trấn Lộc Ninh quả như một ngày hội lớn. Cờ cách mạng tung bay khắp nơi. Đặc biệt, tại sân bay tỏa ra một không khí trang nghiêm và trật tự. Đông đảo đồng bào các giới, cán bộ, bộ đội ăn mặc chỉnh tề, vẻ mặt hân hoan từ mọi nẻo trẩy về, sắp thành đội ngũ. Một rừng cờ đỏ sao vàng xen lẫn với cờ nửa xanh nửa đỏ và bao nhiêu là biểu ngữ, khẩu hiệu hoan nghênh thắng lợi của hiệp định Paris về Việt nam, đòi nghiêm chỉnh và triệt để thi hành hiệp định, hoan hô phái bộ quân sự chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam… Một cuộc meeting chớp nhoáng diễn ra sôi nổi, khí thế, ngay bên cạnh đoàn trực thăng Mỹ im lìm nằm đợi. Nhiều đại biểu thay mặt các giới, các đoàn thể đứng lên phát biểu ngắn gọn nhưng đều có nội dung hoan nghênh hiệp định, đòi thực hiện nghiêm chỉnh, đòi hòa bình và hòa hợp dân tộc, chúc mừng Phái đoàn ta và gởi gắm lòng tin tất thắng vào sự đấu tranh của phái đoàn. Tôi đã thay mặt Đoàn tỏ lời cảm ơn cán bộ, chiến sĩ đồng bào đã tiễn đưa thân tình trọng thể, ghi nhớ điều dặn dò gởi gắm vào Đoàn, hứa xứng đáng với niềm tin ấy. Các sĩ quan và tổ lái người Mỹ, cố tỏ ra văn minh, đứng lặng lẽ nhìn, nhưng các sĩ quan ngụy thì bối rối tức bực ngồi lì trong trực thăng mà không dám ra ngoài.
Cuộc meeting kết thúc, theo lịnh của Tư lệnh căn cứ sân bay Lộc Ninh, đoàn trực thăng Mỹ nổ máy khởi động. Tôi quay nhìn khắp lượt đồng chí, đồng bào, trùm lên cảnh vật Lộc Ninh cái nhìn trìu mến rồi lần lượt bắt tay mọi người. Tôi ôm hôn các đồng chí Văn Phác, cục phó chính trị miền đã cùng tôi tham gia chiến dịch “Nguyễn Huệ” cũng ngay tại Lộc Ninh nầy năm trước, đồng chí Lê Thế Thường, phụ trách tuyên huấn của miền, người đã có lần cùng tôi đi suốt dọc Trường Sơn. Đồng chí Thường hẹn: “Tôi sẽ gởi tặng anh cái ảnh tự tay tôi chụp về quang cảnh nhân dân tin yêu tiễn anh và phái đoàn ta vào Sàigòn hôm nay”. Đoàn chúng tôi vẫy chào đồng bào, đồng chí rồi hăng hái nghiêm trang lần lượt lên trực thăng trước sự quyến luyến của mọi người, trước rừng cờ hoa rung chào tiễn biên. Viên thiếu tá Mỹ chỉ huy chiếc trặc thăng của tôi tỏ ra rất lễ phép, cân thận kiểm tra chiếc ghế ngồi của tôi rồi bướ |
|
|