KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI (1955-1965)
KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI (1955-1965)
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954), miền Tây Bắc rộng lớn được giải phóng hoàn toàn. Tình hình đó đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ ở miền đất này. Ngày 28/9/1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về việc thành lập Khu tự trị Thái - Mèo.
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Yên Bái mở cuộc vận động chính trị hưởng ứng chủ trương thành lập Khu tự trị Thái - Mèo với yêu cầu và nội dung như sau:
Giáo dục trong Đảng và Nhân dân các dân tộc quán triệt sâu sắc chính sách dân tộc, chủ trương thành lập Khu tự trị của Đảng và Chính phủ, thực hiện quyền bình đẳng, tăng cường khối đại đoàn kết giữa các dân tộc; tiếp tục vạch rò âm mưu chia rẽ dân tộc của kẻ thù, xoá bỏ những thành kiến, hiềm thù dân tộc, nâng cao giác ngộ về quyền làm chủ, lòng yêu nước của Nhân dân các dân tộc.
Đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống, hàn gắn vết thương chiến tranh; giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Cuộc vận động này được tiến hành từ tỉnh xuống cơ sở, từ trong Đảng đến các tổ chức quần chúng Nhân dân các dân tộc. Thông qua cuộc vận động, học tập này, hầu hết những người dân ở Khao Mang nâng cao hơn nhận thức của mình về Tổ quốc Việt Nam là đại gia đình các dân tộc anh em; hiểu biết về chính sách đại đoàn kết các dân tộc của Đảng và Chính phủ, thấy rõ tinh thần bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc là đúng đắn, hợp nguyện vọng và quyền lợi thiết thân của dân tộc. Mặt khác cuộc vận động cũng để cho bà con hiểu thực chất về “Xứ Thái tự trị” của bọn phản động, lừa gạt nhân dân, là nguyên nhân gây ra cảnh “nồi da xáo thịt”.
Sau khi học tập, bà con có nhiều hoạt động thiết thực như giúp nhau lúa giống, ngô giống, trâu cày kéo, tạo được một không khí phấn khởi làm thất bại các luận điệu phản tuyên truyền của bọn phản động.
Ngày 29/4/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 230/SL thành lập khu tự trị Thái - Mèo. Khao Mang là một xã trực thuộc châu Than Uyên.
Bước vào thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện cách mạng mới ở Khao Mang gặp những khó khăn chồng chất, đời sống của Nhân dân rất khó khăn. Tình trạng thiếu nông cụ và đồ dùng sinh hoạt trở thành phổ biến trong dân, nương rẫy bỏ hoang, ngô, thóc giống thiếu trầm trọng...
Thực hiện chủ trương của Khu uỷ, các tổ công tác đã về địa phương cứu đói, cứu rách, giúp đỡ Nhân dân kế hoạch sản xuất, điều hòa nông cụ, lúa giống, ngô giống, sức kéo. Sau một thời gian, tình hình sản xuất và đời sống ở Khao Mang có bước cải thiện. Một số diện tích nương, ruộng bị bỏ hoang nay được canh tác trở lại, một số gia đình phiêu bạt đi nơi khác đã trở về địa phương làm ăn sinh sống.
Ngày 18/10/1955, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 606-TTg lập Châu Mù Cang Chải trong khu tự trị Thái - Mèo. Xã Khao Mang lúc này thuộc châu Mù Cang Chải, Khu tự trị Thái – Mèo. Xã Khao Mang thời kỳ này có 5 bản là: Háng Cháng Lừ, Tủa Mả Pán, Páo Sơ Dào, Xéo Mả Pán và Háng Bla Ha.
Ngày 02/7/1957, Ban Chấp hành khu tự trị Thái - Mèo ra quyết định số 47/QĐ-KTTr, thành lập Ban phụ trách châu Mèo Mù Cang Chải. Ngày 18/10/1957 châu Mù Cang Chải chính thức đi vào hoạt động như một đơn vị hành chính.
Sự kiện thành lập châu Mù Cang Chải thể hiện sự quan tâm của Đảng, Chính phủ đến với đồng bào các dân tộc mà đặc biệt là đồng bào dân tộc Mông là một bước ngoặt lịch sử của địa phương. Vì từ đây Nhân dân các dân tộc châu Mù Cang Chải được Ban cán sự Đảng trực tiếp lãnh đạo.
Cuối năm 1957, miền Bắc nước ta cơ bản hoàn thành nhiệm vụ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Xã Khao Mang là một địa bàn xa xôi, hẻo lánh, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp tự túc, tự cấp. Sau 3 năm khôi phục kinh tế, đời sống sản xuất và sinh hoạt của bà con dân tộc Mông có chuyển biến hơn so với trong kháng chiến. Song thực chất đời sống của người dân còn rất nhiều khó khăn, đại đa số các gia đình ở trong tình trạng thiếu đói. Công tác giáo dục và chăm sóc sức khoẻ Nhân dân chưa quan tâm. Cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông đi lại chủ yếu là những con đường mòn.
Ngày 25/8/1958, Bộ Chính trị ra Chỉ thị tiến hành cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ. Quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị và Khu tự trị, Châu ủy Mù Cang Chải mở hội nghị để quán triệt chủ trương và kế hoạch triển khai các bước thực hiện. Ngay sau hội nghị, các tổ công tác xuống từng xã, từng bản để vận động. Châu ủy nhận thức sâu sắc rằng: Đây là cuộc vận động cách mạng sâu sắc và toàn diện, nhằm xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, xác lập quan hệ sản xuất mới, đưa Nhân dân các dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, cần có sự đôn đốc và lãnh đạo chặt chẽ.
Cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp ở xã Khao Mang được tiến hành đúng phương châm: Nhẹ nhàng, đơn giản nhưng kiên quyết và chặt chẽ sâu sắc.
Thông qua cuộc vận động, hầu hết quần chúng đã phân biệt rõ giữa giai cấp lao động và giai cấp bóc lột. Đây là một cuộc cách mạng nhằm xoá bỏ tận gốc tàn dư của chế độ phong kiến, đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị. Cuộc vận động đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Ruộng đất, trâu, bò, ngựa được chia cho những gia đình bần cố nông. Người nông dân từ thân phận làm thuê trở thành người làm chủ. Mơ ước ngàn đời của người Mông nơi đây là “người cày có ruộng” đã trở thành hiện thực. Quần chúng Nhân dân thấy rõ được nhược điểm của con đường làm ăn cá thể, ở Khao Mang các bản có mô hình tổ đổi công do Ủy ban hành chính xã trực tiếp quản lý, điều hành, bước đầu đi vào hoạt động có hiệu quả, tạo khí thế cho phong trào xây dựng hợp tác xã của địa phương.
Tuy nhiên, do đặc điểm của Khao Mang cũng như các xã khác trong huyện xã còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu như tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, sinh đẻ nhiều con, người chết làm ma, làm cúng nhiều ngày, người ốm mời thầy cúng, nghiện thuốc phiện...nhất là tập quán du canh, du cư từ lâu đời của bà con, nay yêu cầu phải sống tập trung và làm ăn tập thể. Vì vậy, chưa xây dựng được hợp tác hóa nông nghiệp điển hình như các xã Kim Nọi, Púng Luông hay xã Chế Cu Nha trong huyện.
Từ năm 1955 đến năm 1962, dưới hệ thống tổ chức của Khu tự trị Thái - Mèo bộc lộ nhiều hạn chế trong công tác lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội. Vì vậy, ngày 27/10/1962 Trung ương Đảng và Quốc hội (khoá II) họp quyết định phê chuẩn việc đổi tên Khu tự trị Thái - Mèo thành Khu tự trị Tây Bắc và thành lập 3 tỉnh ở khu Tây Bắc trực thuộc Trung ương gồm: Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ. Ngày 24 tháng 12 năm 1962, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá II đã ra Nghị quyết thành lập tỉnh Nghĩa Lộ. Khao Mang là xã trực thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Nghĩa Lộ.
Trong những năm 1961-1965, các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng ở Khao Mang đạt được những kết quả nhất định.
Được cán bộ kỹ thuật của châu hướng dẫn về kỹ thuật thời vụ, chăm bón, phòng trừ sâu bọ, bón phân, làm cỏ... Vì vậy, tập quán canh tác cũ của bà con được cải tạo một bước, năng suất và sản lượng có phần tăng lên so với trước đây.
Về chăn nuôi, bước đầu khôi phục đàn gia súc như trâu con, ngựa, bò với tổng số trên 700 con.
Về giáo dục: thời gian này có trường cấp I. Tuy nhiên, số học sinh đến trường đến lớp còn rất ít, chỉ có 07 lớp với 71 học sinh với 3 điểm trường, điểm trường Trụ sở xã có 3 lớp ghép từ lớp 1 đến lớp 3 với 30 học; điểm trường Háng Bla Ha có 3 lớp ghép từ lớp 1 đến lớp 3 với 26 học sinh; điểm trường bản Háng Cháng Lừ có 1 lớp ghép từ lớp 1 đến lớp 2 với 15 học sinh (học sinh nữ có 7 em). Trường có 06 giáo viên đều là thầy giáo ở dưới xuôi lên (Thầy giáo Đồng Văn Định quê xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây là hiệu trưởng đầu tiên của nhà trường); các thầy thầy giáo Bùi Minh Mạnh, quê xã Quảng Chính, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; thầy giáo Hà Ngọc Khoa và thầy Hà Minh Xuân, dân tộc Tày, xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn; thầy Lường Văn Ún, dân tộc Thái, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; thầy Hà Ngoan, dân tộc Mường, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La); đồ dùng dạy học cho học sinh chỉ là quyển sách với bút chì, bàn ghế, lớp học đều do chính quyền và Nhân dân đóng góp gỗ và tự làm. Việc huy động người dân đi học rất khó khăn, tỷ lệ mù chữ của địa phương còn chiếm đại đa số.
Về chăm sóc sức khỏe Nhân dân, hầu hết các bản có túi thuốc chữa bệnh song việc sử dụng chưa hợp lý vì thiếu người quản lý và có trình độ. Trong những năm này, không có dịch lớn xảy ra, song với tập quán lạc hậu của người dân, ốm đau không dùng thuốc mà cho rằng đó là ma, là số phận, chủ yếu là cúng ma.
Các đoàn thể quần chúng như Mặt trận, Thanh niên, Phụ nữ được thành lập song hội viên rất ít.
Năm 1960, chi bộ Khao Mang được thành lập với 7 đảng viên là đồng chí Cứ A Xà, Sùng A Tủa, Lý Khua Lứ, Lý Sung Của, Cứ A Ký, Giàng A Sang, Giàng Nủ Vàng. Đồng chí: Cứ A Xà được chỉ định làm Bí thư.
Chi bộ đã chú trọng trong công tác rèn luyện đảng viên luôn gương mẫu đi đầu trong mọi cuộc vận động. Song công tác phát triển đảng viên rất khó khăn, nhận thức của đảng viên người địa phương về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng hạn chế. Vì vậy, công tác giáo dục, tuyên truyền, thuyết phục của chi bộ đảng gặp rất nhiều hạn chế, không phát triển thêm được đảng viên.
Tình hình ở địa phương giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn, các hủ tục lạc hậu, của chế độ cũ vẫn còn tồn tại nhất là trong việc cưới, việc tang, ốm đau...trở thành những khó khăn khó khắc phục được. Tỷ lệ người nghiện thuốc phiện chiếm đáng kể trong dân là một gánh nặng trong mỗi gia đình và chính quyền địa phương. Những người mắc nghiện không muốn lao động, suốt ngày quanh quẩn bên bàn đèn, chỉ nghĩ đến khói thuốc phiện. Vì vậy, đời sống của gia đình họ đã khó khăn lại càng khó khăn, đây là những trăn trở lớn nhất đối với chi bộ, chính quyền địa phương. Tình trạng này diễn ra trong một thời gian dài, phổ biến, là một trong những trở ngại trên con đường đi tới ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.



