KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH, NHÂN VĂN
KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH, NHÂN VĂN
Lao Chải là một vùng đất có từ lâu đời. Tuy nhiên, qua thăng trầm của lịch sử, địa danh địạ giới của vùng đất này có nhiều thay đổi. Năm 1900, thực dân Pháp thành lập tỉnh Yên Bái, đơn vị hành chính Lao Chải ngày nay gồm thuộc động Kim Nọi châu Than Uyên tỉnh Yên Bái.
Ngày 7 tháng 5 năm 1955, Chính phủ thành lập Khu tự trị Thái - Mèo (sau đổi tên là khu tự trị Tây Bắc). Xã Lao Chải lúc đó thuộc châu Than Uyên của Khu tự trị. Ngày 18 tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 606-TTg lập Châu Mù Cang Chải trong khu tự trị Thái - Mèo. Xã Lao Chải lúc đó thuộc châu Mù Cang Chải, Khu tự trị Tây Bắc. Năm 1962, Chính phủ bỏ cấp khu, thành lập tỉnh, Lao Chải là đơn vị hành chính trực thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Nghĩa Lộ. Năm 1976, ba tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ, Lào Cai sáp nhập thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Xã Lao Chải lúc đó thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Năm 1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn chia thành 2 tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Xã Lao Chải khi đó thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
Hiện nay Lao Chải có 14 bản là các bản Lao Chải, Dào Xa, Tà Ghênh, Cảng Đông, Cồ Đề Sáng A, Cồ Đề Sáng B, Xéo Dì Hồ A, Xéo Di Hồ B, Hồng Nhì Pá, Để Sửa, Hú Trù Lĩnh, Đào Ca Nha, Trống Khua, Hãng Gàng; có dân số là 8.039. người với 1.328 hộ, trong đó người Mông chiếm trên 99%, còn lại là người Kinh chiếm 1%, sự gắn kết làng bản, cộng đồng ở đây rất chặt chẽ.
Người Mông ở Lao Chải có bản sắc dân tộc bền vững, thường ở trên những sườn núi cao. Canh tác chủ yếu là làm nương và ruộng bậc thang. Trước đây, người Mông du canh du cư là chủ yếu nhưng hiện nay, với chính sách dân tộc của Đảng, người Mông đã định canh, định cư, không tiếp tục phá rừng làm nương rẫy, vì vậy các hộ gia đình đều khai hoang làm ruộng nước, làm nương định canh để ổn định cuộc sống lâu dài.
Người Mông có kỹ thuật rèn đúc khá cao, họ thường rèn lấy nông cụ như lưỡi cày, cuốc ngoài ra còn khoan sắt chế tạo súng kíp rất chính xác. Phụ nữ Mông chịu khó, cần cù. Ở đâu, chúng ta cũng bắt gặp phụ nữ Mông tranh thủ tước sợi lanh để dệt váy, áo, chăn, địu... Những hoạ tiết, hoa văn trên trang phục và các đồ dùng khác rất độc đáo. Nhìn vào bộ trang phục, người ngoài có thể nhận biết được sự tài hoa của người phụ nữ Mông và đời sống của gia đình họ.
Kho tàng văn hoá dân gian của người Mông ở Lao Chải rất phong phú. Cũng như đa số người Mông ở Mù Cang Chải, các làn điệu dân ca của người Mông ở đây đều diễn tả tế nhị, kín đáo, sâu lắng, ví von và được giãi bày bằng các nhạc cụ đơn giản, gần gũi như khèn, sáo, nhị, đặc biệt là kèn lá.
Trước đây, người Mông trồng cây anh túc. Song, cả một chặng đường dài nhìn lại, loài cây này đã không giúp người dân khỏi đói nghèo mà còn gây hậu quả xấu cho con người. Nghiện thuốc phiện đã trở thành gánh nặng của mỗi gia đình, sức khoẻ bị huỷ hoại, tài sản thì khánh kiệt, hạnh phúc gia đình luôn đe doạ sự tan vỡ. Thực hiện cuộc vận động "ba bỏ" (bỏ trồng thuốc phiện, bỏ hút thuốc phiện, bỏ tàng trữ và buôn bán thuốc phiện). Cuộc vận động này đã gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển những nghề vốn là thế mạnh của địa phương.
Cộng đồng người Mông, người Kinh ở Lao Chải luôn đoàn kết, gắn bó với nhau trong sản xuất cũng như trong đời sống sinh hoạt. Đó là một trong những cội nguồn sức mạnh của địa phương.


