Khai quốc công thần nhà Nguyễn và án oan gần 1 thế kỷ
Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại hay Nguyễn Văn Thụy. Ông sinh ngày 26 tháng 11 năm Tân Tỵ (tức năm 1761) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 22, tại xóm An Trung, làng An Hải, thuộc huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam thời Nguyễn - nay thuộc phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Cha ông là Nguyễn Văn Lượng, sinh thời làm chức từ thừa, là một chức quan nhỏ chuyên lo việc tế tự tại các đền miếu do nhà nước lập ra.
Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Tuyết, vợ thứ của ông Lượng. Nguyễn Văn Thoại sinh ra và lớn lên lúc Trịnh và Nguyễn đánh nhau liên miên, tiếp theo nữa là phong trào Tây Sơn nổi dậy.
Vì thế, mẹ ông phải dẫn ông và 2 em chạy nạn vào Nam, cuối cùng định cư ở làng Thới Bình trên cù lao Dài, nằm giữ sông Bang Tra và sông Cổ Chiên, nay thuộc địa phận huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Vào năm Đinh Dậu (tức năm 1777), khi đó Nguyễn Văn Thoại tròn 16 tuổi đến xin đầu quân Nguyễn tại Ba Giồng.
Năm 1778, ông có mặt trong trận chiến đấu chiếm lại thành Gia Định. Năm 1782, quân Tây Sơn đánh bại quân chúa Nguyễn ở cửa Cần Giờ, ông phò chúa Nguyễn Phúc Ánh chạy về Ba Giồng.
Từ năm 1784 đến năm 1785, ông đã theo chúa Nguyễn sang Xiêm La hai lần để cầu viện. Từ năm 1787 đến năm 1789, Nguyễn Văn Thoại có công trong việc thu lại thành Gia Định nên được phong chức Cai cơ.
Năm 1791, ông được cử là Trấn thủ hải khẩu Tắc Khái, tức cửa Lấp thuộc Bà Rịa. Năm 1792, ông lại sang Xiêm La, trên đường về đã đánh tan bọn cướp biển Bồ Đà.
Liên tục các năm 1796, 1797, 1799 ông đều được chúa cử sang nước Xiêm La. Đến năm 1800, Nguyễn Văn Thoại được phong Khâm sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân, phối hợp với Lào đánh quân Tây Sơn ở Nghệ An.
Nhưng đến năm 1801, thì ông bị giáng cấp, xuống chức Cai đội quản suất Thanh Châu đạo, vì tự ý bỏ về Nam mà không đợi lệnh trên. Năm 1802, chúa Nguyễn thống nhất đất nước, lên ngôi vua hiệu là Gia Long.
Trong dịp tặng thưởng các bề tôi có công, Nguyễn Văn Thoại được phong Khâm sai Thống binh cai cơ, nhận nhiệm vụ ra thu phục Bắc Thành rồi được giữ chức Trấn thủ ở nơi đó.
Ít lâu sau ông nhận lệnh làm Trấn thủ Lạng Sơn, rồi lại vào Nam nhận chức Trấn thủ Định Tường. Năm 1812, ông sang Cao Miên đón Nặc Chân về Gia Định. Năm 1813, ông hộ tống Nặc Chân về nước và ở lại nhận nhiệm vụ bảo hộ Cao Miên.
Ở Cao Miên được 3 năm, Thoại Ngọc Hầu được triệu về Huế rồi nhận chức trấn thủ trấn Vĩnh Thanh vào năm 1817. Cũng trong năm này, ông cho lập 5 làng trên cù lao Dài. Ở trấn Vĩnh Thanh, ông sốt sắng lo việc khẩn hoang lập ấp, đào kinh đắp đường, phát triển và bảo vệ vùng đất mới.
Cũng chính trong thời gian này, ông đã là người chỉ huy xây dựng một loạt các công trình lớn để lại cho đời sau. Kênh Thoại Hà được ông cho khởi đào vào năm 1818, dài hơn 30 km, nối rạch Đông Xuyên (tức Long Xuyên) với ngọn Giá Khê (tức Rạch Giá).
Khi Nguyễn Văn Thoại cho đào xong con kênh này thì vua Gia Long đã cho phép ông lấy tên mình để đặt cho tên núi và tên kênh. Cũng từ đó mà đất nước có thêm núi Thoại Sơn và kênh Thoại Hà.
Một trong những công trình lớn nữa mà Nguyễn Văn Thoại đã xây dựng chính là kênh Vĩnh Tế. Kinh Vĩnh Tế nằm tại địa phận hai tỉnh An Giang và Kiên Giang, thuộc đồng bằng sông Cửu Long.
Đây là 1 con kênh đào lớn nhất trong lịch sử thời phong kiến Việt Nam. Con kênh được đặt tên theo tên vợ chính của ông, phu nhân Châu Thị Tế.
Kênh Vĩnh Tế đào song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia, bắt đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sông Giang Thành, thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ngày nay.
Nguyên nhân là vào năm 1816, khi thành Châu Đốc được đắp xong, Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh Lưu Phước Tường tâu lên, vua Gia Long xem địa đồ miền đất này liền truyền rằng: “Xứ này nếu mở đường thủy thông với Hà Tiên, thì hai đàng nông thương đều lợi. Trong tương lai, dân đến ở làng đông, đất mở càng rộng, sẽ thành một trấn to vậy”.
Mặc dù biết như vậy nhưng vua Gia Long chưa ra lệnh đào ngay vì ngại đây là vùng đất mới mở, nhân dân còn cơ cực, nếu bắt làm xâu thêm khổ sở, lòng dân sẽ không yên. Đến tháng 9 năm Kỷ Mão (tức năm 1819), vua Gia Long mới cho lệnh đào kênh. Công việc được bắt đầu khởi công vào ngày 15 tháng Chạp năm ấy.
Sách “Quốc triều sử toát yếu”, phần Chánh biên có chép về sự kiến này như sau: “Tháng 9, đào sông Châu Đốc thông với Hà Tiên, gọi là sông Vĩnh Tế. Ngài (tức vua Gia Long) nghĩ trấn Vĩnh Thanh, trấn Hà Tiên gần nước Chân Lạp mà không có đàng thủy, qua lại không tiện.
Lúc ấy có quan Chiêu thùy Chân Lạp là Đông Phòng sang chầu, Ngài đòi vào hỏi việc đào sông, (viên quan ấy) tâu rằng: “Nếu đào sông ấy thời ích lợi cho dân Chân Lạp lắm”.
Ngài vui lòng. Liền truyền dụ dân Vĩnh Thanh rằng: “Công trình đào sông ấy rất khó, việc Nhà nước và cách phòng giữ bờ cõi quan hệ rất lớn. Các ngươi tuy khó nhọc một lần, mà ích lợi cho muôn đời ngày sau; dân ngươi phải báo cho nhau biết chớ nên sợ nhọc”.
Kênh Vĩnh Tế được đào trong một thời gian dài với bốn lần hoãn đào. Công trình được kéo dài từ thời tướng Nguyễn Văn Nhơn làm Tổng trấn Gia Định Thành (1819-1820) cho đến thời tướng Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định Thành (1820-1832) mới xong.
Có thể xem hai ông như là “Tổng chi huy” của công trình. Giai đoạn một khởi công vào tháng 12 năm 1819 đến tháng 3 năm 1820 thì tạm dừng.



