Bài viết

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại Việt Bắc, trở lại Cao Bằng

Cao Bằng16/07/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng lúc phải đối phó với muôn vàn khó khăn, phức tạp. Nền kinh tế đất nước sau gần một thế kỷ bị chủ nghĩa thực dân kìm hãm và phải phục vụ chiến tranh đế quốc đã trở nên cạn kiệt. Đồng ruộng hoang hóa, thiên tai liên miên làm cho sản xuất nông nghiệp mất mùa. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bị đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giao thông ách tắc, tài chính trống rỗng,… Nạn thất nghiệp gia tăng ở cả thành thị và nông thôn, đặc biệt là nạn đói ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ tiếp tục đe dọa hàng triệu người. Hơn 90% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội lan tràn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân vô cùng thấp kém. Cái đói và cái dốt tích tụ từ bao năm đang kìm hãm cả dân tộc vừa giành chính quyền về tay nhân dân. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang rất cần điều kiện hòa bình để củng cố xây dựng về mọi mặt.

Việc ra đời của một nhà nước độc lập, dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo tại một địa bàn chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á đã có sức cổ vũ rất lớn đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới vùng lên tự giải phóng.

Chính phủ Mỹ từ chỗ ngăn cản Pháp trở lại Đông Dương trong thời kỳ Tổng thống Rudơven với ý đồ tranh giành ảnh hưởng của Pháp ở vùng này đã dần dần đi đến chỗ ủng hộ Pháp quay trở lại thuộc địa cũ. Đế quốc Anh, xuất phát từ quyền lợi thực dân của mình, luôn luôn chống lại thuyết ủy trị quốc tế của Rudơven, chống lại việc trao trả độc lập cho các thuộc địa cũ mà thực chất là hướng theo quỹ đạo của Mỹ, cũng ra sức ủng hộ Pháp trở lại Đông Dương.

Nước Pháp sau khi được giải phóng khỏi chủ nghĩa phát xít đứng trước tình hình rối ren về chính trị, suy yếu về kinh tế, quân sự, lại phải đối phó với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đang diễn ra ở hầu khắp các thuộc địa của Pháp. Vì vậy, giới thực dân phản động Pháp muốn trở lại xâm lược thuộc địa cũ nhằm bóc lột, vơ vét của cải, tài nguyên góp phần khắc phục khó khăn ở chính quốc; đồng thời còn nhằm bảo vệ, củng cố hệ thống thuộc địa có nguy cơ tan rã sau khi nước Việt Nam mới ra đời.

Ngày 23-9-1945, được sự giúp đỡ của quân Anh và quân Nhật, quân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ hai. Đúng thời điểm này, trên đất nước ta có tới gần 30 vạn quân chính quy của các nước Anh, Pháp, Nhật và quân Tưởng Giới Thạch (trong đó có 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch, 6 vạn quân Nhật, trên 2 vạn quân Anh - Ấn…) cùng nhiều đảng phái phản động với âm mưu lật đổ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chưa bao giờ đất nước ta có nhiều kẻ thù đến thế, hiểm họa đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”. Đây là một tình thế đặc biệt hiểm nghèo của cách mạng nước ta.

Đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, Đảng và Chính phủ ta trước sau kiên quyết giữ vững mục tiêu cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập thống nhất cho Tổ quốc Việt Nam, đã áp dụng nhiều biện pháp chiến lược và sách lược hết sức mềm dẻo để tiếp tục đưa cách mạng tiến lên. Cụ thể như: khi thì tạm thời hòa hoãn với Tưởng Giới Thạch để rảnh tay đối phó với Pháp, khi thì tạm thời hòa hoãn với Pháp để đẩy quân Tưởng Giới Thạch và bọn tay sai ra khỏi nước ta. Riêng đối với Pháp, Chính phủ ta đã nhiều lần đàm phán, đặc biệt việc ký Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, để đuổi được 20 vạn quân Tưởng về nước, ta chấp nhận cho 15.000 quân Pháp vào thay thế quân Tưởng ở miền Bắc Việt Nam. Theo Hiệp định sơ bộ ngày 9-3-1946, sau 5 năm, số quân Pháp sẽ rút hết về nước, Pháp thừa nhận Việt Nam là một nước tự do. Nhưng thực dân Pháp không thực hiện đúng cam kết, họ lấn dần từng bước và lập nước “Nam Kỳ tự trị”. Nam Bộ không có đình chiến. Vì thiết tha với hòa bình, độc lập tự do và thống nhất, ta ký tiếp với Pháp bản Tạm ước ngày 14-9-1946 nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế, văn hóa; mặt khác, cũng để trì hoãn thời gian khởi chiến và tranh thủ xây dựng lực lượng. Điều đó thể hiện quyết tâm sắt đá bảo vệ nền độc lập của đất nước vừa giành được, đồng thời biểu thị nguyện vọng hòa bình của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ thực chất dã tâm của thực dân Pháp, đó là: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”. Để bảo vệ độc lập, tự do, bảo vệ nền cộng hòa non trẻ, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh buộc phải lãnh đạo toàn dân tiến hành một cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược chỉ 16 tháng sau khi giành được độc lập.

Ngày 18-12-1946, Thường vụ Trung ương họp Hội nghị mở rộng ở làng Vạn Phúc (thị xã Hà Đông), hạ quyết tâm phát động toàn dân kháng chiến và quyết định nổ súng trước để giành thế chủ động. 20 giờ ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam bắt đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng, Chính phủ rời Hà Nội trở về Việt Bắc, tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn