Khát vọng cống hiến, hy sinh tuổi thanh xuân cho Tổ quốc
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, biết bao thanh niên lứa tuổi 20, như Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc, Chu Cẩm Phong... lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc và rồi vĩnh viễn ra đi.
Nhưng bản lĩnh sống, sự hy sinh, khát khao, ước mơ, tình yêu cháy bỏng, ý chí chiến đấu với niềm tin tất thắng của người lính năm xưa thì vẫn gửi lại thế hệ sau qua những trang nhật ký viết vội trên mỗi chặng đường hành quân.
Đó chính là một phần của hiện thực sinh động về cuộc chiến tranh ác liệt, về tình yêu Tổ quốc đến mức quên mình, về tình yêu lứa đôi đẹp như truyện cổ tích nhưng khó trọn vẹn; giúp chúng ta khơi lại nhiều cảm nhận sâu sắc về một thời bom đạn đã lùi vào quá khứ từ hơn nửa thế kỷ qua.
Chắc hẳn nhiều bạn đọc trong và ngoài nước vẫn chưa quên câu chuyện về cuốn nhật ký "Mãi mãi tuổi hai mươi" của liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc và "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" của Anh hùng, liệt sỹ, bác sỹ Đặng Thùy Trâm. Hai cuốn nhật ký với hàng triệu bản in đã được phát hành và được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Trong suốt ba năm công tác ở Quảng Ngãi, tại nơi chiến trường khói lửa đạn bom, bác sỹ Đặng Thùy Trâm đã đem toàn bộ tâm tư sâu kín của mình vào những trang nhật ký.
"Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm" chất chứa biết bao tình cảm, tình yêu trong sáng, mãnh liệt và thánh thiện cho người bệnh, cho đồng chí, cho đồng bào, cho Tổ quốc.
Chị quan niệm “…Nhật ký này đâu phải chỉ là cuộc sống của riêng mình mà nó phải là những trang ghi lại những mảnh đời rực lửa chiến đấu và chồng chất đau thương của những con người gang thép trên mảnh đất miền Nam này."
Nắn nót qua từng con chữ, bác sỹ Đặng Thùy Trâm đã ghi lại những năm tháng chiến đấu kiên cường của quân và dân ta, sự hy sinh cao cả của một thế hệ anh hùng.
Hình ảnh của những người lính bị thương, sự đau đớn mà họ phải chịu trong điều kiện thiếu thuốc, thiếu trang thiết bị y tế, nhưng ở đó, tình người vẫn đong đầy, tình đồng đội luôn san sẻ và yêu thương nhau trong những ngày sống và chiến đấu gian khổ.
Qua từng trang nhật ký, hình ảnh một cô gái Hà Nỗi sẵn sàng lao vào khói lửa chiến tranh vì không muốn sống hoài, sống phí những năm tháng thanh xuân hiện lên sống động, gần gũi.
Chị từng viết “Cuộc sống ở đây vô cùng gian nan, chết chóc hy sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm. Cuộc sống đổi bằng máu xương, tuổi trẻ của bao nhiêu người. Mẹ ơi… Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không có con đâu. Con luôn tự hào vì đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc.”
Tuy ngôn từ mộc mạc, gần gũi, nhẹ nhàng xuất phát từ tâm tư của một cô gái bé nhỏ nhưng thẩm thấu một nỗi niềm và ý chí vô hạn, niềm tin sắt đá vào lý tưởng cách mạng, gạt đi nỗi nhớ để nuôi dưỡng lý tưởng “nguyện suốt đời dấn thân cho Đảng, cho non sông”, tiếp tục cố gắng, tin rằng ngày mai đất nước hòa bình thì bản thân sẽ được sống những ngày tháng tươi đẹp như trước đây.
Cùng với “Nhật ký Đặng Thùy Trâm,” “Mãi mãi tuổi hai mươi” của liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc là tấm gương soi tâm hồn của một thế hệ dấn thân, không ngại gian khổ hy sinh.
Theo anh, đã cống hiến thì không thể cống hiến nửa vời, cầm chừng, mà phải cống hiến triệt để, hết mình. Trong chiến đấu phải noi gương các anh hùng, anh viết: “Tự dưng, mỗi người lính đều nghĩ đến anh hùng Nguyễn Chơn. Người chiến sỹ cộng sản triệt để - Người sư trưởng dũng mãnh của sư 304. Phải sống như thế và rèn luyện như thế.”
Đồng thời, người chiến sỹ cộng sản không được lùi bước trước những khó khăn, gian khổ, phải vượt lên hoàn cảnh, vượt lên chính mình: “Không được lùi bước, không được chậm lại, và phải đi đến cùng”, dù cho có “sống một ngày cũng phải sống cho đàng hoàng.”
Là lính trẻ, Nguyễn Văn Thạc dũng cảm, kiên cường trước kẻ thù, không ngại hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh bản thân vì Tổ quốc. "Dù có phải hy sinh, tôi cũng không bao giờ hối hận. Tôi biết rằng, mỗi giọt máu của chúng ta rơi xuống là góp phần bảo vệ cho quê hương, cho cuộc sống bình yên của thế hệ mai sau."
Với một đất nước đã trải qua nhiều năm chiến tranh như Việt Nam thì có hàng nghìn cuốn nhật ký khác cũng đầy máu lửa chiến trường, được viết bởi những người lính trên khắp các mặt trận.
Đó là "Nhật ký chiến tranh" của Chu Cẩm Phong, nhật ký "Những ngày trong vòng vây" của Trần Mai Hạnh, "Nhật ký chiến trường" của Dương Thị Xuân Quý, "Nhật ký Bê trọc" của Phạm Việt Long, hay "Nhật ký đi B" của Triệu Bôn.
Họ đều là những phóng viên chiến trường, nhật ký đều được viết trong nửa cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 tại chiến trường miền Nam. Mỗi cuốn nhật ký sẽ là những câu chuyện đời, những câu chuyện về cuộc chiến tranh, về tuổi trẻ.
Mỗi người một góc nhìn, bổ sung cho nhau. Những trang viết đầy máu lửa ấy, bao năm rồi vẫn như nóng hổi hơi thở chiến trường, bởi sự sống và cái chết là ranh giới quá mỏng manh.
Ngày 8/1/1970: “Sắp đến mình sẽ đi công tác, mình nhận đi lại Quảng Đà, một nơi ác liệt nhất. Mình có thể sẽ hy sinh trong mùa xuân lịch sử này lắm. Nếu mình ngã xuống như Phương Thảo, Văn Cận, Xuân Quý, thì ba mình, và nhất là mẹ, sẽ đau khổ đến dường nào. Mình biết điều đó. Mình là đứa con trai được cả nhà yêu thương... Nhưng dầu thế nào, mình cũng không xê dịch cái phương châm sống của mình: dũng cảm, say sưa và quên mình như những chiến sĩ cộng sản chân chính đi trước. Dẫu ngã xuống một giờ, nửa giờ trước khi ta giành thắng lợi hoàn toàn, cũng Hạnh phúc lắm thay!”
Đấy là tâm nguyện thầm kín của Chu Cẩm Phong được ghi trong nhật ký cho riêng mình và cái thầm kín ấy đã hiện thành hành động sống hàng ngày của anh. Vượt ra ngoài ý định của người ghi, như một nét riêng của văn học Việt Nam kháng chiến, “Nhật ký chiến tranh” của Chu Cẩm Phong tự thân nó chứa đựng một giá trị văn học độc đáo. Cái tôi trữ tình trong tập nhật ký này hiện lên trước ta như một phẩm chất toàn vẹn của một con người được cổ vũ bởi một lý tưởng sống cao cả, gắn chặt số phận mình với số phận nhân dân, số phận Tổ quốc, số phận đồng loại.



