KHÁT VỌNG TUỔI HAI MƯƠI: CÂU CHUYỆN VỀ LIỆT SĨ, DÂN QUÂN HÀ NỘI NGUYỄN VĂN THẠC
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước cuồn cuộn sóng trào, có một thế hệ thanh niên Hà Nội đã xếp lại bút nghiên, tạm biệt cổng trường đại học, gạt đi những ước mơ cá nhân để lên đường ra mặt trận. Giữa hàng vạn người con ưu tú của Thủ đô ấy, hình ảnh người sinh viên Văn - Toán lãng mạn, tài hoa Nguyễn Văn Thạc cùng cuốn nhật ký "Mãi mãi tuổi hai mươi" đã trở thành biểu tượng bất tử cho tâm hồn, lý tưởng và khát vọng cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam.

KHÁT VỌNG TUỔI HAI MƯƠI: CÂU CHUYỆN VỀ LIỆT SĨ, DÂN QUÂN HÀ NỘI NGUYỄN VĂN THẠC
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước cuồn cuộn sóng trào, có một thế hệ thanh niên Hà Nội đã xếp lại bút nghiên, tạm biệt cổng trường đại học, gạt đi những ước mơ cá nhân để lên đường ra mặt trận. Giữa hàng vạn người con ưu tú của Thủ đô ấy, hình ảnh người sinh viên Văn - Toán lãng mạn, tài hoa Nguyễn Văn Thạc cùng cuốn nhật ký "Mãi mãi tuổi hai mươi" đã trở thành biểu tượng bất tử cho tâm hồn, lý tưởng và khát vọng cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam.
Chàng trai tài hoa của đất Tràng An
Nguyễn Văn Thạc sinh ngày 14 tháng 10 năm 1952 tại làng Bưởi, Hà Nội, trong một gia đình thợ thủ công nghèo. Từ nhỏ, anh đã nổi tiếng là một học sinh thông minh, ham học và có năng khiếu đặc biệt về các môn tự nhiên lẫn xã hội. Dưới mái trường Cấp 3 Yên Hòa B (Hà Nội), anh không chỉ đạt giải Nhất học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc năm học 1969 - 1970 mà còn thi đỗ vào Khoa Toán - Cơ của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội với điểm số rất cao.
Hà Nội trong ký ức của chàng thanh niên Nguyễn Văn Thạc là những góc phố cổ rợp bóng cây xanh, là tiếng ve kêu râm rân mùa hè bên hồ Tây, là những buổi chiều tan học đạp xe cùng bè bạn và tình yêu trong sáng, thơ mộng dành cho cô bạn gái cùng khóa Phạm Thị Như Anh. Những trang sách, những công thức toán học và những bài luận văn bay bổng tưởng chừng sẽ mở ra cho anh một tương lai tươi sáng trên con đường nghiên cứu khoa học.
Xếp bút nghiên vì độc lập của Tổ quốc
Nhưng đó là những năm 1971, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Tiếng gọi của Miền Nam ruột thịt vang lên từ các giảng đường. Tháng 9 năm 1971, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Nguyễn Văn Thạc cùng hàng ngàn sinh viên các trường đại học tại Hà Nội đã gác lại giấc mơ tri thức, gác lại những lời hẹn thề tuổi trẻ để nhập ngũ.
Đêm trước ngày lên đường, rời xa Hà Nội yêu dấu, anh ngồi dưới ánh đèn dầu tù mờ ghi lại những dòng chữ nồng nẫm tình yêu quê hương: "Hà Nội xa dần... Những con phố quen thuộc, mái trường Tổng hợp thân thương, tất cả đều ở lại sau lưng. Nhưng trong lòng mình, Hà Nội chưa bao giờ gần đến thế!". Anh khoác lên mình chiếc áo màu xanh chú bộ đội, mang theo hành trang là niềm tin đinh ninh vào ngày chiến thắng và một cuốn sổ tay nhỏ để ghi lại những chặng đường gian khổ mà hào hùng.
Cuốn nhật ký trên đường ra mặt trận
Từ một chàng sinh viên quen với bàn giấy và trang sách, Nguyễn Văn Thạc trở thành chiến sĩ chiến đấu thuộc Trung đoàn 101, Sư đoàn 325. Anh cùng đồng đội vượt qua hàng ngàn cây số dốc núi gập gềnh, trải qua những trận mưa bom bão đạn rải thảm của kẻ thù trên đường Trường Sơn để tiến vào chiến trường Quảng Trị - nơi được mệnh danh là "cối xay thịt" trong mùa hè đỏ lửa năm 1972.
Dù gian khổ, thiếu thốn và cái chết luôn rình rấp từng giây từng phút, tâm hồn người chiến sĩ trẻ Hà Nội vẫn tràn đầy tinh thần lạc quan và tình yêu thiết tha đối với cuộc sống. Tranh thủ những phút nghỉ ngơi ngắn ngủi giữa hai trận đánh, dưới ánh chớp của đạn pháo hay trong những căn hầm dã chiến ẩm ướt, anh lại nắn nón viết nhật ký.
Anh viết về tình đồng đội ấm áp chia nhau từng ngụm nước, từng củ sắn lùi; anh viết về vẻ đẹp rực rỡ của những nhành hoa rừng nở muộn giữa vùng đất cháy xém vì chất độc hóa học; và anh viết về giấc mơ ngày hòa bình. Ngày 2 tháng 10 năm 1971, anh đã để lại những dòng dự cảm tiên tri lay động tâm khảm của biết bao thế hệ:
"Mất mát nào bằng mất mát của tuổi trẻ? Nhưng chúng mình đã đi, không tiếc tuổi thanh xuân... Tôi định nói gì ư? Chắc chắn đó là lời nhắn gửi cho thế hệ sau: Hãy sống sao cho khỏi xót xa, hối ân vì những năm tháng sống hoài, sống phí... 30 tháng 4 năm 1975 - Hà Nội sẽ mừng chiến thắng, chúng mình sẽ gặp lại nhau..."
Khúc ca bất tử tại Thành cổ Quảng Trị
Mùa hè năm 1972, chiến trường Quảng Trị rực lửa. Thành cổ Quảng Trị trở thành tâm điểm của cuộc đọ sức lịch sử. Trung đoàn của Nguyễn Văn Thạc nhận nhiệm vụ chốt giữ, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng trước sức tấn công điên cuồng của máy bay B-52 và pháo hạm đối phương.
Là một chiến sĩ thông tin liên lạc, Nguyễn Văn Thạc phải liên tục di chuyển giữa các dòng pháo đạn dày đặc để giữ vững mạch máu thông tin cho chỉ huy. Anh không hề nao núng, nhiều lần dũng cảm lao ra khỏi hầm dưới làn đạn dày đặc để nối lại dây cáp bị đứt, đảm bảo cho các đơn vị pháo binh đánh trúng tọa độ địch.
Ngày 30 tháng 7 năm 1972, trong một trận mưa pháo ác liệt của địch vào vị trí chốt giữ tại xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, một mảnh pháo nghiệt ngã đã cướp đi sự sống của người chiến sĩ trẻ. Nguyễn Văn Thạc ngã xuống khi mới tròn 19 tuổi 9 tháng - khi ước mơ và tài năng đang ở độ rực rỡ nhất, khi cuốn nhật ký của anh vẫn còn những trang giấy trắng dở dang.
Ngọn lửa soi đường cho thế hệ tương lai
Anh ngã xuống, nhưng cuốn nhật ký cùng những dòng chữ rực lửa của anh đã được đồng đội chuyền tay nhau giữ giữ và đưa trở về hậu phương. Năm 2005, cuốn nhật ký được xuất bản với tiêu đề "Mãi mãi tuổi hai mươi", ngay lập tức tạo nên một làn sóng lay động sâu sắc hàng triệu trái tim người Việt Nam.
Lời hẹn ngày 30 tháng 4 năm 1975 của anh đã trở thành sự thật: Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thu về một mối. Sự hy sinh của Nguyễn Văn Thạc cùng hàng vạn người con của Hà Nội và cả nước đã đổi lấy màu xanh bình yên cho Tổ quốc hôm nay.
Câu chuyện về người sinh viên Hà Nội Nguyễn Văn Thạc không chỉ là bài ca về lòng yêu nước sắt đá, mà còn là ngọn đuốc soi đường cho tuổi trẻ hôm nay. Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tinh thần "Sống sao cho khỏi xót xa, hối ân" của anh chính là mệnh lệnh từ trái tim, nhắc nhở thế hệ trẻ không ngừng học tập, sáng tạo và cống hiến để dựng xây một Việt Nam đàng hoàng hơn, đàng hoàng hơn và đàng hoàng hơn như Bác Hồ kính yêu từng mong ước.


