Bài viết

Khẩu súng K54 và trận chiến đấu quyết tử của người anh hùng tình báo

Ninh Bình21/04/2026Lê Văn Điệp (Công an xã Tân Thanh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khẩu súng K54 và trận chiến đấu quyết tử của người anh hùng tình báo

* TRẦN MINH

Người anh hùng mà chúng tôi muốn nói tới đó là Nguyễn Văn Thương (Tư Hiếu, Hai Thương), nguyên cán bộ giao thông tình báo thuộc Đoàn 22 - Cục Nghiên cứu - Bộ Tổng Tham mưu (nay là Tổng cục II - Bộ Quốc phòng). Suốt quãng đời hoạt động của anh là một tấm gương chiến đấu dũng cảm, ngoan cường và tấm lòng nhất mực kiên trung với Đảng, với cách mạng, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không chịu khuất phục trước kẻ thù.

Những năm tháng hoạt động trước khi bị địch bắt

Nguyễn Văn Thương sinh năm 1938, tại xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, vùng đất mà trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là căn cứ nổi tiếng che chở, đùm bọc cho các cơ quan đầu não kháng chiến Nam Bộ ăn ở hoạt động, vì thế đây cũng là mục tiêu đánh phá thường xuyên của kẻ địch.

Sinh ra trong một gia đình cách mạng, bố anh nguyên là một chiến sỹ quân báo, từng tham gia trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, còn mẹ nguyên là cán bộ công tác ở Hội phụ nữ tỉnh Bến Tre, bị giặc Pháp bắt và đày ra giam giữ tại "địa ngục trần gian” Côn Đảo. Cả cuộc đời tuổi thơ của anh phải chịu nhiều thiệt thòi và mất mát, đau thương, mới 2 tháng tuổi mẹ đã phải gạt nước mắt, ngậm ngùi gửi Thương nhờ người em ruột nuôi giúp để bà có thể tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng. Vừa lên 7 tuổi, nhận được tin báo mẹ hy sinh ở ngoài Côn Đảo. Năm 21 tuổi, đến lượt bố cũng anh dũng ngã xuống trên chiến trường. Nỗi đau chồng chất nỗi đau.

Từ vùng quê nghèo bị tàn phá bởi bom đạn của kẻ thù, Nguyễn Văn Thương đã lớn lên tiếp tục nối gót bố mẹ hăng hái tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1955, khi vừa tròng 17 tuổi, anh làm giao liên cho Ban Quân báo tỉnh Tây Ninh. Đến tháng 5 năm 1959, thì chính thức nhập ngũ trở thành người chiến sỹ trực tiếp cầm súng chiến đấu, từng tham gia trong phong trào nổi dậy Đồng Khởi trên toàn miền Nam năm 1960.

Năm 1961, khi Phòng Tình báo Miền (J22) (một bộ phận quan trọng của cơ quan tình báo Trung ương) được thành lập, làm nhiệm vụ điều tra nghiên cứu toàn diện về địch phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Trung ương Cục và Quân uỷ miền Nam, đồng thời tham gia một số nhiệm vụ chiến lược nhằm góp phần cùng quân dân miền Nam và cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Là một chiến sỹ trẻ nhanh nhẹn, có sức khoẻ tốt lại thông thạo địa bàn và từng có kinh nghiệm tham gia hoạt động giao liên cho Ban Quân báo tỉnh, Nguyễn Văn Thương được cấp trên lựa chọn điều về công tác tại Phòng Tình báo Miền và được phân công phụ trách tuyến giao thông liên lạc tình báo khu vực bắc Sài Gòn nối tới các căn cứ. Suốt gần 10 năm trời thực hiện nhiệm vu trên địa bàn cửa ngõ vùng ven hết sức gian khổ, ác liệt, địch thường xuyên đổ quân càn quét và kiểm soát gắt gao, các cuộc vây ráp, bắt bớ xảy ra liên miên, nhưng với ý chí kiên cường, bất khuất và sự mưu trí, sáng tạo, Nguyễn Văn Thương vẫn luôn biết tìm cách vượt qua an toàn, đã thực hiện nhiều chuyến công tác thành công, chuyển được nhiều tin tức, tài liệu trót lọt, đồng thời trực tiếp bảo vệ và đưa đón hàng trăm lượt cán bộ từ nội đô Sài Gòn ra chiến khu cũng như từ chiến khu vào Sài Gòn đi hoạt động.

Ngày ấy, địa bàn đi đứng chân hoạt động của cụm Điệp báo A36 của anh cũng là một trong những trọng điểm càn quét đánh phá thường xuyên của đế quốc Mỹ. Để bảo vệ an toàn khu căn cứ, nhiều lần Hai Thương đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy anh em chiến đấu hàng chục trận giành thắng lợi vang dội, diệt được hàng trăm tên địch, phá huỷ hàng chục xe quân sự các loại. Có lần địch cho quân tập kích vào khu vực đóng quân của cụm tại xã An Tây, huyện Bến Cát, Nguyễn Văn Thương đã trực tiếp chỉ huy một tổ chiến đấu bắn rơi 3 máy bay trực thăng lên thẳng của Mỹ Nguỵ bằng súng tiểu liên AK. Với ưu thế lực lượng đông, có xe tăng và pháo binh yểm trợ, địch tổ chức bao vây liên tục cả tháng trời, gây rất nhiều khó khăn cho đơn vị nhưng anh vẫn cùng đồng đội kiên cường bám trụ vào địa đạo để chiến đấu, đã tiêu diệt được 50 tên địch, phá huỷ 8 xe tăng, bắn bị thương nhiều tên, đẩy lùi cuộc bao vây tập kích của địch.

Trong cuộc tổng tiến công nổi dậy trên toàn miền Nam Tết Mậu Thân năm 1968, tình hình diễn biến hết sức căng thẳng, quyết liệt, nhất là sau khi Mỹ Nguỵ tổ chức phản công đàn áp mạnh mẽ, làm cho lực lượng cách mạng của ta bị tổn thất nặng nề, các mạng lưới giao thông liên lạc tình báo cũng gặp không ít khó khăn, nhiều đường dây bị đứt liên lạc. Trong tình hình đó, mạng lưới do Hai Thương phụ trách vẫn ngày đêm kiên trì bám sát tuyến đường 13 để theo dõi, quan sát địch và đặt được nhiều hộp thư trên từng cây số dọc tuyến đường này, góp phần nối liền thông suốt đường dây giao thông liên lạc tình báo về căn cứ. Trong đợt 2 của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân, anh được giao nhiệm vụ trực tiếp quan sát, điều tra thị xã Bình Long, một trong những lá chắn quân sự vòng ngoài bảo vệ Sài Gòn để chụp ảnh các căn cứ quân sự và vị trí các trung đoàn địch phục vụ cấp trên chỉ đạo tác chiến. Một hôm, khi đang làm nhiệm vụ phát hiện thấy có mật thám theo dõi, Hai Thương đã khôn khéo, mưu trí đánh lạc hướng và cắt đuôi được chúng, hoàn thành nhiệm vụ trở về an toàn.

Và trận chiến đấu không cân sức

Vào đầu tháng 2 năm 1969, Nguyễn Văn Thương cùng lúc nhận được 2 bức điện của cấp trên, một là, trở về Phòng Tình báo Miền để chuẩn bị ra Bắc học Trường Chính trị Nguyễn Ái Quốc; hai là, ngay lập tức đi bắt liên lạc và nhận tài liệu quan trọng từ lưới điệp báo của đồng chí Hai Trung, điệp viên của ta hoạt động trong cơ quan đầu não địch. Đứng trước yêu cầu nhiệm vụ cấp bách, Hai Thương quyết định ở lại trực tiếp đột nhập vào nội đô Sài Gòn bắt liên lạc với cơ sở của ta để nhận tài liệu chuyển về cho căn cứ. Đây là chuyến công tác hết sức quan trọng nhưng cũng không kém phần nguy hiểm, bởi vì kể sau trận đòn Tết Mậu Thân 1968, Mỹ Nguỵ tăng cường khủng bố, càn quét và chống phá cách mạng hết sức gắt gao, nhằm xoá bỏ các căn cứ kháng chiến của ta hoàng đẩy lùi chủ lực quân giải phóng ra xa, cắt đứt con đường tiếp tế từ hậu phương lớn miền Bắc, đồng thời mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, khiến cho lực lượng cách mạng của ta gặp không ít khó khăn, trong đó có hoạt động của lực lượng tình báo. Nhiệm vụ của anh hết sức nặng nề. Chính Hai Thương cũng không thể ngờ rằng chuyến công tác này trở thành bước ngoặt làm gián đoạn trong cuộc đời hoạt động của anh. Cho đến hôm nay, gần 40 năm trôi qua nhưng những ký ức về chuyến công tác và trận chiến đấu sinh tử ngày nào vẫn còn in đậm trong tâm trí anh.

Hôm đó vào ngày 10/2/1969, sau khi tiếp nhận tài liệu từ cơ sở đầu mối tại Sài Gòn và đang trên đường trở về đến cánh đồng làng thuộc nam Bến Cát, Hai Thương bất ngờ đụng ngay một trận càn của quân địch. Đi theo yểm trợ cho cuộc hành quân có khoảng chục chiếc máy bay lên thẳng các loại gầm rú quần đảo bên trên. Đến gần ấp chiến lược, chúng hạ dần độ cao. Từ trên một chiếc trực thăng thấp nhất tiến gần và áp sát đến chỗ anh, Hai Thương nghe rõ một tiếng rất quen gọi đúng tên thường dùng của anh ở chiến khu và yêu cầu anh dừng lại để khám người (thời kỳ ở chiến khu anh em vẫn thường gọi anh là Tư Hiếu). Tiếng gọi quen đó khiến cho Hai Thương một chút hơi giật mình vì bất ngờ nhưng rồi anh đã kịp thời bình tĩnh quan sát nhận ra đó chính là tên Tư Hiền. Tư Hiền vốn là một cán bộ R mà có lần chính Hai Thương đã dẫn đường bảo vệ đưa hắn về căn cứ nhưng nay nó đã đầu hàng địch, trở thành tên chiêu hồi nguy hiểm, dẫn kẻ địch đi càn quét, lùng sục tìm kiếm bắt bớ cán bộ của ta

và bây giờ đang đối mặt yêu cầu xét người anh. Trước tình thế cấp thiết, Hai Thương quyết định bằng bất cứ giá nào cũng phải chiến đấu đến cùng để bảo vệ tài liệu: “Nếu bây giờ mình bỏ chạy thì nhất định địch sẽ bắn chết và tài liệu sẽ rơi vào tay chúng, lúc đó rất có thể chúng sẽ truy ra nguồng cung cấp và như thế sẽ ảnh hưởng tới sự an nguy tính mạng của đồng đội đang hàng ngày, hàng giờ âm thẩm “đối mặt với kẻ thù tại các cơ quan đầu não của địch. Chỉ có một con đường để lựa chọn là quyết một phen sống còn với địch rồi thừa cơ làm sao dấu được tài liệu an toàn, đó là việc quan trọng nhất.

Lúc này trong người Hai Thương chỉ có duy nhất một khẩu súng ngắn K54 mang theo để tự vệ. Quyết là hành động, ngay lập tức Hai Thương rút súng ngắn ra bắn liền hai phát hạ gục ngay tên Mỹ ôm súng và tên chiêu hồi đang gọi đòi xét người anh rồi tiếp tục nhằm thẳng vào nguồn điện của máy bay để bắn. Khi thấy chiếc trực thăng bốc cháy dữ dội, Hai Thương tranh thủ chạy vào công sự du kích cách đó không xa bởi anh biết rằng một mình đơn phương giữa đồng vắng khó có thể đọ lại lực lượng đông của quân Mỹ, đồng thời nhận cơ hội đó để tìm cách dấu tài liệu. Trên đường chạy, một chiếc máy bay khác của địch bắn đuổi theo làm anh bị thương vào bắp chân phải. Mặc kệ, anh vẫn cứ chạy. Địch gọi thêm các máy bay khác đến đổ quân bao vây hòng quây bắt bằng được tên “Việt cộng” to gan này. Dù chân bị trúng đạn đau buốt nhưng cuối cùng Hai Thương cũng bò được vào bên trong công sự, tự tay băng bó nhanh vết thương và sẵn sàng tiếp tục chiến đấu trở lại. Lúc này, súng ngắn chỉ còn 21 viên đạn, anh nhẩm tính và xác định: “Phải hết sức chính xác, tiết kiệm mới được!”. Từ trong công sự, Hai Thương nằm im chờ địch tiến gần với khoảng cách 18 thước rồi nhằm thẳng từng tên bóp cò... Từng viên một rất chính xác. Nhưng anh không bắn chết mà cố tình bắn gây sát thương nặng buộc chúng phải la hét ầm ĩ uy hiếp tinh thần những tên còn lại, làm cho chúng hoang mang sợ hãi, giảm nhuệ khí chiến đấu. Mười lăm viên đạn bắn ra, từng tên Mỹ ngã xuống quần quại... Khi chỉ còn một viên đạn cuối cùng, Hai Thương quay nòng định dành cho mình như đã suy tính từ trước. Nghĩ rồi, anh lại như chợt ngộ ra khi nhớ tới lời của đồng chí Ba Hội (cụm trưởng A36, người từng bị địch bắt giam) đã từng nói rằng: “Khi ở tù gian khổ lắm. Nằm xà lim là vẫn còn sướng. Tự sát chưa phải là cách tốt nhất. Người Cộng sản, người chiến sỹ quân báo phải chiến đấu đến cùng, sáng tạo trong những giờ phút gay go nhất để tìm cách chiến đấu...".

Quả thực, bao nhiêu năm lăn lộn hoạt động, đã từng chiến đấu hàng chục trận, diệt nhiều kẻ thù, biết bao lần một mình anh bất chấp nguy hiểm vượt qua các ổ phục kích, các đồn bốt và trạm kiểm soát của địch để thực hiện nhiệm vụ bí mật, cái chết đối với anh có sá gì, vậy mà chưa lúc nào Hai Thương phải đắn đo suy nghĩ trong một tình huống cụ thể như lúc này.

“Đúng! Tự sát là có tội. Phải chiến đấu đến hơi thở và giọt máu cuối cùng như đã từng thề trước Đảng” - Hai Thương quả quyết. Đoạn rồi, anh quay súng chĩa ra phía trước nhằm thẳng vào tên Mỹ đang hung hăng tiến đến gần và hạ gục nó. Bắn xong, anh tháo súng từng bộ phận ném ra xa rồi bất chấp nguy hiểm nhảy lên khỏi công sự giật lấy khẩu súng AR15 từ xác tên lính Mỹ vừa ngã xuống để tiếp tục chiến đấu. Với khẩu AR15 này, Hai Thương bắn hạ thêm được mấy tên địch nữa thì hết đạn. Cuộc chiến đấu không cân sức đã không thể cho anh cơ hội giết chết những tên còn lại. Địch điên cuồng ập đến bắt anh. Chúng còng tay, lôi anh lên máy bay đưa về trại thẩm vấn.

Ở trong trại giam, thoạt đầu chúng đem bài vật chất, tiền bạc, mỹ nhân (gái đẹp) hòng dụ dỗ mua chuộc anh nhưng với ý chí và tấm lòng kiên trung của người chiến sỹ cách mạng, Hai Thương vẫn không hề mảy may động lòng... Không được, chúng chuyển qua những ngón đòn đánh đập và tra tấn bằng điện hết sức tàn bạo. Dã man hơn, chúng còn dùng lưỡi lê sắc nhọn xuyên qua bắp chân anh xoáy mạnh, với hy vọng hình thức tra tấn đau đớn rất “độc chiêu” này sẽ buộc anh phải khai ra họ tên thật, các cơ sở cách mạng và tổ chức của ta, thế nhưng Hai Thương vẫn cắn răng chịu đựng không hề hé lộ bất cứ một lời nào. Địch điên lên hành động tàn ác, chúng đưa anh lên bàn mổ, dùng cưa sắt cưa cụt dần hai chân anh đến tận bẹn. Cách một ngày chúng cưa một khúc. Mỗi lần cưa là một lần Nguyễn Văn Thương phải trải qua sự đau đớn vô cùng. Cứ như thế địch cưa chân anh đến 6 lần, hai lần bên phải, bốn lần bên trái nhưng vẫn không sao có thể lay chuyển được ý chí kiên cường, bất khuất, “gan vàng, dạ thép” và sức chịu đựng phi thường của người chiến sỹ tình báo.

Cuối cùng, biết không thể dùng đòn roi tàn bạo và thủ đoạn thâm độc mà có thể khuất phục được người chiến sỹ cộng sản, địch đày anh ra giam giữ tại nhà lao Phú Quốc. Những năm ở trong tù, Hai Thương tiếp tục tham gia đấu tranh chính trị rất hăng hái, là đảng viên chi bộ nhà tù.

Về phía đơn vị, sau khi hay tin Hai Thương bị địch bắt tra tấn dã man trong nhà tù nhưng vẫn một lòng kiên trung không hề chịu khai báo bất cứ một lời nào, bảo đảm an toàn cho mạng lưới và tính mạng của đồng đội, anh em đã rất thương xót và cảm phục. Đồng thời, cấp trên cũng quyết định cho người bí mật tiếp cận hiện trường nơi diễn ra trận chiến đấu quyết tử của anh để tìm kiếm tập tài liệu mà họ tin chắc rằng đã được Hai Thương dấu kín trong lúc chiến đấu. Và quả đúng như nhận định, các đồng chí giao thông mật của ta đã tìm thấy tài liệu quan trọng về chiến tranh Đông Dương mà trong lúc nguy nan Hai Thương vẫn tìm cách dấu rất khéo dưới những luống cày và cả khẩu súng chiến đấu của anh nữa.

Tinh thần chiến đấu bất khuất và phẩm chất cách mạng tuyệt vời của Nguyễn Văn Thương trở thành tấm gương sáng cho toàn đơn vị noi theo học tập, tiếp tục phấn đấu vươn lên khắc phục mọi khó khăn, gian khổ để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xứng đáng vào thắng lợi cuối cùng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Trở về từ nhà lao Phú Quốc

Sau Hiệp định Pari được ký kết (27/1/1973), Mỹ và chính quyền Thiệu thực hiện trao trả tù binh, trong chuyến trở về đất liền ngày 14 tháng 2 năm 1973 có tên Nguyễn Văn Thương cùng một số đồng chí khác. Đón anh ở sân bay Lộc Ninh gồm đồng chí, đồng đội và đặc biệt là người vợ rất đỗi thương yêu đã chờ đợi anh trong suốt bao nhiêu năm ròng đi kháng chiến và 4 năm bị tù đày. Gặp lại chồng với đôi chân không còn nguyên vẹn, mặc dù đã biết trước song chị không nén nổi nghẹn ngào xúc động. Thăm chồng được 5 ngày, ngày nào chị cũng khóc, khóc vì thương chồng đứt đoạn nửa chừng trong cuộc chiến tranh nhưng cũng khóc vì hạnh phúc bởi dẫu sao so với nhiều người anh cũng còn được may mắn sống trở về.

Sau khi ra khỏi nhà tù đế quốc Mỹ, Hai Thương được cấp trên đưa ra Bắc để chữa bệnh và nghỉ ngơi an dưỡng, hồi phục sức khoẻ. Còn chị tình nguyện ở lại nuôi con chờ chồng, chờ ngày giải phóng, thống nhất đất nước để đón anh về sum họp cùng gia đình, dù cực khổ trăm bề, phải ở nhờ, làm thuê, may và để kiếm sống nhưng chị vẫn không hề nản lòng.

Sau giải phóng, năm 1976 chị làm đơn xin cho chồng được trở về sum họp gia đình để có điều kiện chăm sóc anh. Nguyện vọng đó đã được tổ chức chấp thuận. Vậy là sau bao năm chịu đựng hy sinh gian khổ và xa cách, giờ đây chị mới thực sự được ở bên cạnh chồng để chăm sóc anh, dù có lúc trái nắng trở trời, vết thương cũ lại đau nhức khiến cho anh nhiều lúc nóng nảy nhưng chị vẫn dịu dàng chăm sóc, không bao giờ nặng lời, than phiền với chồng. Thế mới biết “Cái vĩ đại đâu chỉ ở những người cầm súng, phải dành một phần để ngợi ca về những người vợ, người mẹ - như chính lời Hai Thương đã từng nói về người vợ nhất mực thương yêu của mình.

Đến nay, khi đã ngoài 70, đã lên chức ông, con cháu đuề huề, cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc, nhìn lại quãng đời hoạt động đã trải qua với biết bao gian khổ, hy sinh và sóng gió, thăng trầm, Hai Thương vẫn không cảm thấy có điều gì phải hối tiếc mà ngược lại ông rất vui sướng, tự hào về những năm tháng đã đi theo cách mạng, kháng chiến và hy sinh một phần xương máu của mình cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

Với những thành tích và cống hiến xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngày 6/11/1978, Nguyễn Văn Thương đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Trong suốt quá trình công tác, Hai Thương còn được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý khác: Hai Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, một Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, 14 lần được công nhận danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ”...

Khẩu súng K54 gắn với những chiến công một thời và trận chiến đấu quả cảm ngày nào của Anh hùng Nguyễn Văn Thương giờ được lưu giữ và trưng bày trân trọng ở Bảo tàng Tổng cục II.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn