KHI ĐẤT NƯỚC CÒN NHIỀU GIAN KHÓ
Ông Nguyễn Văn Tấn, sinh năm 1958, quê Hương Sơn, Hà Tĩnh, nhập ngũ ngày 16/8/1976 và bắt đầu những năm tháng tuổi trẻ trong quân ngũ. Giai đoạn 1978–1979, ông công tác và chiến đấu tại biên giới Tây Ninh, tham gia nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, sau đó học tập và tiếp tục công tác tại Dục Mỹ, Ninh Hòa. Từ người lính trực tiếp trải qua chiến trường đến Trung đội trưởng đào tạo sĩ quan, ông đã dành phần lớn tuổi trẻ để phục vụ quân đội trước khi nghỉ hưu năm 2011.
KHI ĐẤT NƯỚC CÒN NHIỀU GIAN KHÓ
Có những câu chuyện, nếu không kể lại, theo thời gian sẽ dần chìm vào quên lãng. Tôi muốn kể lại câu chuyện về những năm tháng tuổi trẻ của mình – những năm tháng tôi đã sống trong màu xanh áo lính.
Tôi là Nguyễn Văn Tấn, sinh ngày 3 tháng 9 năm 1958, quê Hương Sơn, Hà Tĩnh.
Ngày 16 tháng 8 năm 1976, tôi nhập ngũ. Tôi tham gia đội quân tình nguyện tại Trung đoàn 866, Sư đoàn 31, đóng quân ở Anh Sơn, Nghệ An. Đất nước lúc ấy bước vào thời kỳ hậu chiến. Hòa bình đã lập lại nhưng khó khăn còn rất nhiều. Những hậu quả của chiến tranh vẫn hiện diện trong đời sống. Người dân phải bắt tay xây dựng lại cuộc sống, còn quân đội vẫn phải duy trì lực lượng và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đất nước. Chúng tôi, những người lính trẻ, lớn lên trong hoàn cảnh đó. Không có những điều kiện đầy đủ như hôm nay. Cuộc sống đơn vị còn nhiều thiếu thốn. Nhưng chính những thiếu thốn ấy đã rèn luyện cho chúng tôi tính chịu khó và tinh thần tập thể. Tôi cứ thế trưởng thành trong quân ngũ.
Đến năm 1978–1979, tôi công tác tại Tây Ninh. Tình hình biên giới Tây Ninh diễn biến phức tạp. Tôi tham gia chiến đấu ở biên giới Tây Ninh trong cuộc chiến đấu với Pôn Pốt ở Campuchia. Đó là thời gian tôi hiểu rõ hơn ý nghĩa của trách nhiệm. Trong chiến đấu, người lính không chỉ cần sức khỏe mà còn cần ý chí. Những lúc khó khăn, điều giúp chúng tôi đứng vững là tinh thần đồng đội và ý thức về nhiệm vụ.
Sau cuộc chiến, tôi được đi học tại Trường Quân 9, Quân đoàn 3, đóng tại Dục Mỹ, Ninh Hòa. Ba tháng học tập là bước chuẩn bị cho chặng đường tiếp theo. Sau khi hoàn thành khóa học, tôi ở lại đơn vị công tác và giữ chức Trung đội trưởng Trung đội đào tạo sĩ quan. Tôi chuyển từ người trực tiếp trải qua chiến đấu sang người tham gia đào tạo thế hệ quân nhân trẻ. Đó là một công việc đòi hỏi trách nhiệm. Tôi luôn nghĩ rằng mỗi người cán bộ đều có ảnh hưởng nhất định đến những người mình đào tạo. Vì vậy, bản thân phải nghiêm túc trong công việc, giữ kỷ luật và làm gương. Những năm tháng ấy cứ nối tiếp nhau.
Đến năm 2011, tôi nghỉ hưu. Tôi sống tại Ninh Sim, Ninh Hòa, Khánh Hòa. Cuộc sống sau khi nghỉ hưu bình dị hơn. Nhưng những ký ức về thời quân ngũ vẫn luôn còn đó. Bây giờ khi nhìn lại, tôi nhận ra điều quý giá nhất mà những năm tháng khó khăn mang lại chính là sự trưởng thành. Nếu tuổi trẻ của tôi được sống trong một thời kỳ đầy đủ, có lẽ tôi sẽ không hiểu hết giá trị của sự bình yên. Chính những năm tháng gian khổ đã dạy tôi biết trân trọng cuộc sống hôm nay.
Tôi kể câu chuyện này không phải để nói rằng thế hệ chúng tôi đã làm được những điều phi thường. Tôi chỉ muốn lưu lại một phần ký ức của một người lính đã từng đi qua những năm tháng đất nước còn nhiều khó khăn.
Để rồi hôm nay, khi nhìn lại, tôi có thể nói với con cháu rằng: Tuổi trẻ của ông đã từng như thế. Đã từng có những ngày tháng gian khổ, có những chuyến đi xa quê, có những năm tháng chiến đấu và có cả những ngày đứng trên bục huấn luyện người lính trẻ.
Đó là tuổi trẻ của tôi. Một tuổi trẻ trong thời hoa lửa.



