khi lòng yêu nước được đặt lên trên cả giới hạn của thân xác.
Có những con người sinh ra không phải để làm nên lịch sử, nhưng lịch sử lại tìm đến và chọn họ làm điểm tựa. Ngô Thị Tuyển là một người như thế. Cô không sinh ra trong gấm vóc, không được học hành cao sang, chỉ là một cô gái làng chài bé nhỏ bên bờ sông Mã. Vậy mà chính cô gái ấy, năm 19 tuổi, với thân hình mỏng manh chưa đầy 42 cân, đã vác trên vai hai hòm đạn nặng tới 98 cân – nặng hơn gấp đôi cơ thể mình – để chạy qua mưa bom bão đạn, tiếp đạn cho đồng đội giữ vững cây cầu Hàm Rồng huyền thoạ
Người con gái của làng nam ngạn
Năm 1946, tại làng Nam Ngạn, một làng chài nhỏ nằm nép mình bên dòng sông Mã hiền hòa mà cũng lắm phen dữ dội, một cô bé đã chào đời trong căn nhà tranh vách đất của một gia đình nông dân nghèo. Gia đình có sáu anh chị em, và Ngô Thị Tuyển là một trong những đứa con phải lớn lên giữa cái thiếu, cái khó của một thời đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh.
Nếu ví cuộc đời mỗi con người như một dòng sông, thì tuổi thơ của Ngô Thị Tuyển chính là đoạn sông chảy qua những ghềnh đá lởm chởm nhất – gập ghềnh, vất vả, nhưng cũng chính những ghềnh đá ấy đã mài giũa nên một dòng nước mạnh mẽ, biết vượt qua mọi chướng ngại để chảy ra biển lớn. Cô bé Tuyển từ nhỏ đã quen với gánh nặng trên vai – không phải gánh nặng của đạn dược như sau này, mà là gánh nặng của những bó củi, những thúng cá, những công việc đồng áng giúp cha mẹ nuôi đàn em nhỏ. Có ai ngờ rằng, chính những năm tháng nhọc nhằn ấy lại là bài tập rèn luyện thầm lặng cho một sức bền phi thường, để rồi khi Tổ quốc cần, cô đã sẵn sàng biến gánh nặng của đời thường thành gánh nặng của lịch sử.
Làng Nam Ngạn nằm sát bên cầu Hàm Rồng – cây cầu sắt vắt qua sông Mã, được người Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ 20, nối liền hai miền đất nước qua tuyến đường sắt và đường bộ Bắc – Nam. Với người dân Thanh Hóa, cầu Hàm Rồng không chỉ là một công trình giao thông, mà còn là biểu tượng, là mạch máu nối liền hậu phương lớn miền Bắc với chiến trường miền Nam. Chính vì tầm quan trọng sống còn đó, ngay từ những năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, đế quốc Mỹ đã coi Hàm Rồng là một trong những mục tiêu đánh phá then chốt nhất, hòng cắt đứt huyết mạch chi viện của miền Bắc cho miền Nam ruột thịt.
Sinh ra và lớn lên ngay bên cây cầu định mệnh ấy, có lẽ ngay từ khi còn là một cô bé chăn trâu, cắt cỏ, Ngô Thị Tuyển đã thấm trong máu mình tình yêu với quê hương, với dòng sông, với cây cầu – những thứ tưởng như vô tri vô giác nhưng lại gắn bó máu thịt với đời sống của cả một vùng đất. Và rồi, khi chiến tranh ập đến, tình yêu ấy đã trở thành động lực để cô gái nhỏ bước vào hàng ngũ những người cầm súng, cầm đạn, bảo vệ từng tấc đất quê hương.
Khi đất trời hàm rồng rực lửa
Đầu năm 1965, đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh, mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc Việt Nam. Cầu Hàm Rồng trở thành một trong những "tọa độ lửa" nóng bỏng nhất của cả nước. Ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965, không quân Mỹ đã huy động hàng trăm lượt máy bay, dội bom dữ dội xuống khu vực cầu Hàm Rồng, hòng biến cây cầu thành đống sắt vụn, cắt đứt con đường chi viện cho miền Nam.
Nếu phải hình dung khung cảnh Hàm Rồng những ngày tháng đó, người ta có thể tưởng tượng đến một bức tranh địa ngục giữa trần gian: bầu trời đặc kín khói đạn, tiếng máy bay gầm rú như xé toạc không gian, những cột lửa, cột khói đen cuồn cuộn bốc lên từ những trái bom rơi xuống dòng sông, xuống làng mạc, xuống chính những thửa ruộng mà người dân Nam Ngạn từng cày cấy. Dòng sông Mã – vốn hiền hòa, trong xanh, soi bóng những hàng tre – giờ đây sủi bọt vì bom đạn, có những khúc sông nước đỏ ngầu như máu. Nhưng giữa khung cảnh tưởng như chỉ có sự hủy diệt ấy, lại mọc lên những bông hoa của lòng dũng cảm và tình yêu nước – đó là những chiến sĩ, những dân quân tự vệ, trong đó có cô gái Ngô Thị Tuyển.
Năm 19 tuổi – độ tuổi đẹp nhất của một người con gái, khi bạn bè cùng lứa có thể đang mơ về những điều bình dị như áo dài, như mái tóc dài, như những buổi hẹn hò bên gốc đa đầu làng – thì Ngô Thị Tuyển đã khoác lên mình bộ quân phục dân quân, tay cầm súng, vai vác đạn, đứng giữa lằn ranh sinh tử để bảo vệ cây cầu quê hương. Cô không cao lớn, không vạm vỡ. Người ta kể lại rằng khi ấy cô chỉ cao hơn 1m40, cân nặng chưa đầy 42 cân – một thân hình mà nếu đặt cạnh những người lính cao to, người ta dễ lầm tưởng đó là một cô bé học sinh cấp hai chứ không phải một chiến sĩ đang trực tiếp tham gia vào một trong những trận đánh ác liệt nhất của cuộc kháng chiến.
Nhưng chính trong thân hình bé nhỏ ấy lại cất giữ một ý chí lớn hơn cả ngọn núi, một trái tim nóng hơn cả những trái bom đang rơi. Trong những ngày tháng 4 lịch sử ấy, khi đạn pháo phòng không của ta bắn lên không ngừng nghỉ để đáp trả từng đợt oanh tạc của máy bay Mỹ, nhu cầu tiếp đạn trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Mỗi giây phút trì hoãn đều có thể đồng nghĩa với việc một trận địa pháo phải ngừng bắn, một khoảng trống chết người mở ra trên bầu trời Hàm Rồng. Và chính lúc đó, những người dân quân như Ngô Thị Tuyển đã trở thành mạch máu nối liền giữa kho đạn và trận địa, là những "con thoi" lao đi giữa làn bom đạn để mang sự sống – mang đạn dược – đến cho những họng pháo đang gầm vang.



