Anh hùng Lực lượng vũ trang

Khí phách ngư dân áo vải: Huyền thoại Nguyễn Trung Trực

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang

Tây Ninh24/08/2026Trường Đại học Hải Dương (Trường Đại học Hải Dương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Khí phách ngư dân áo vải: Huyền thoại Nguyễn Trung Trực

Sinh ra từ sóng nước Nam Bộ, người anh hùng ấy đã đi vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm. Cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng rực rỡ của ông là một bản hùng ca được viết bằng lòng quả cảm vô song và khí tiết hiên ngang trước họng súng quân thù.

Từ người dân chài đến thủ lĩnh dân quân

Người anh hùng ấy tên thật là Nguyễn Văn Lịch (thuở nhỏ còn gọi là Chơn, sau này còn được gọi là Quản Lịch hay Quản Chơn), sinh năm 1838 tại xóm nghề thôn Bình Nhựt, tỉnh Gia Định (nay thuộc tỉnh Long An). Gia đình ông vốn có truyền thống chài lưới, nguyên quán gốc ở Phù Cát, Bình Định. Từ nhỏ, Nguyễn Văn Lịch đã nổi tiếng là người thâm trầm, nghiêm nghị và can đảm. Nhờ tính tình ngay thẳng, cương trực, ông được thầy dạy học đặt cho tên hiệu là Trung Trực. Không chỉ giỏi chữ nghĩa, ông còn được rèn luyện cả văn lẫn võ tại rạch Bảo Định và từng đoạt giải quán quân trong một võ đài lớn, được đông đảo võ sinh tôn làm thủ lĩnh.

Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ, lòng yêu nước sục sôi đã thôi thúc người thanh niên áo vải phất cờ khởi nghĩa. Ông gia nhập nghĩa quân của Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định, sớm bộc lộ tài thao lược và được tin tưởng giao trọng trách quyền sung quản binh đạo, chỉ huy nghĩa quân hoạt động ở vùng Tân An, Gò Công.

Chiến công oanh liệt vang dội đất trời

Trong sự nghiệp kháng Pháp lừng lẫy của Nguyễn Trung Trực, hậu thế mãi mãi khắc ghi hai chiến công hiển hách tựa như huyền thoại.

Chiến công đầu tiên chính là trận "Hỏa hồng Nhựt Tảo" diễn ra vào ngày 10 tháng 12 năm 1861. Lúc bấy giờ, tiểu hạm L'Espérance (Hi Vọng) của Pháp đang án ngữ tuần tra vùng vàm Nhật Tảo. Để tiếp cận tàu giặc, Nguyễn Trung Trực đã dùng mưu kế vô cùng táo bạo: cho nghĩa quân cải trang, giả làm một đoàn thuyền đi rước đám cưới. Khi những chiếc ghe áp sát mạn tàu Pháp, nghĩa quân thình lình nổ súng tấn công áp đảo. Nguyễn Trung Trực là người đầu tiên dũng cảm nhảy lên tàu tiêu diệt lính gác. Bị đánh bất ngờ, quân Pháp không kịp trở tay. Nghĩa quân nhanh chóng phóng hỏa đốt cháy rụi và nhấn chìm chiến hạm viễn chinh xuống lòng sông. Trận đánh oanh liệt này đã làm rung chuyển bộ chỉ huy Pháp, bẻ gãy uy thế của kẻ thù và thắp lên ngọn lửa hy vọng cho phong trào kháng chiến khắp Nam Kỳ.

Chiến công lừng lẫy thứ hai mang tên "Kiếm bạt Kiên Giang". Đêm 16 tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân kết hợp cùng nhân dân các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer bất ngờ đánh úp đồn Kiên Giang (ngay tại trung tâm Rạch Giá). Nghĩa quân men theo bờ biển đổ bộ lên gần Lăng Ông, nhanh chóng làm chủ tình hình. Toàn bộ quân địch trong đồn bị tiêu diệt và bắt sống, trong đó có cả viên sĩ quan chủ tỉnh Pháp Chánh Phèn. Nghĩa quân thu giữ hơn 100 khẩu súng và làm chủ tỉnh lỵ suốt nhiều ngày liền. Đây là lần đầu tiên nghĩa quân đánh thắng trực tiếp ngay tại cơ quan đầu não của địch.

Khí tiết hiên ngang hóa linh thần

Trước sự phản công tàn khốc của quân Pháp, Nguyễn Trung Trực phải rút quân về Hòn Chông rồi ra đảo Phú Quốc lập căn cứ chống trả lâu dài. Tại Phú Quốc, quân Pháp siết chặt vòng vây, chặn đường tiếp tế khiến nghĩa quân rơi vào cảnh cạn kiệt lương thực và đạn dược. Độc ác hơn, giặc bắt giữ mẹ của ông và nhiều người dân vô tội làm con tin, thẳng tay khủng bố đồng bào nhằm ép ông ra hàng. Không muốn nhìn thấy nhân dân và nghĩa quân bị tàn sát vô lý, Nguyễn Trung Trực đã quyết định ra đương đầu với quân Pháp.

Sau khi bị bắt vào ngày 19 tháng 9 năm 1868, thực dân Pháp đưa ông về Sài Gòn tra tấn dã man và dùng đủ mọi chức tước, bổng lộc để dụ dỗ ông đầu hàng. Thế nhưng, người anh hùng vẫn giữ vững khí tiết, thẳng thắn đáp lại kẻ thù: "Nếu có chức vụ nào giết hết Tây dương cướp nước thì ta nhận chức đó".

Biết không thể lay chuyển được ý chí của người ái quốc, ngày 27 tháng 10 năm 1868, thực dân Pháp đưa ông ra chợ Rạch Giá để hành quyết. Sáng hôm ấy, người dân Tà Niên – nơi từng đùm bọc nghĩa quân – đã thức suốt đêm dệt nên những chiếc chiếu hoa in chữ "Thọ" màu đỏ tươi để trải trên con đường ông bước ra pháp trường. Đứng trên chiếc chiếu thắm đượm lòng dân, Nguyễn Trung Trực hiên ngang yêu cầu không bịt mắt để ông được nhìn đất nước và đồng bào lần cuối. Trước khi gươm đao hạ xuống, ông đã dõng dạc để lại lời thề bất hủ cho non sông:

“Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây.”

Sự hy sinh của Nguyễn Trung Trực ở tuổi 30 đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi. Triều đình nhà Nguyễn sau đó đã sắc phong ông là Thượng Đẳng Linh Thần. Hơn một thế kỷ trôi qua, người dân khắp Nam Bộ vẫn tôn kính thờ phụng ông. Khí phách hiên ngang của người anh hùng dân chài áo vải mãi mãi là ngọn lửa yêu nước truyền đời, rực sáng cùng thời gian.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn