Khi ta khuyên Lê Lợi đánh vào lòng người
Những năm đầu ở Lam Sơn, nghĩa quân nhiều lần đứng giữa ranh giới sống còn. Quân Minh đông hơn, vũ khí mạnh hơn, thành lũy nhiều hơn. Có những đêm nhìn quanh doanh trại, ta thấy quân sĩ áo rách, gạo chỉ còn đủ cho vài ngày, người bị thương nằm im bên bếp lửa sắp tàn. Trong hoàn cảnh ấy, nhiều người chỉ nghĩ đến cách thắng bằng gươm giáo. Nhưng ta hiểu rằng nếu chỉ lấy ít chống nhiều, Lam Sơn khó đi đến ngày cuối cùng.

Những năm đầu ở Lam Sơn, nghĩa quân nhiều lần đứng giữa ranh giới sống còn. Quân Minh đông hơn, vũ khí mạnh hơn, thành lũy nhiều hơn. Có những đêm nhìn quanh doanh trại, ta thấy quân sĩ áo rách, gạo chỉ còn đủ cho vài ngày, người bị thương nằm im bên bếp lửa sắp tàn.
Trong hoàn cảnh ấy, nhiều người chỉ nghĩ đến cách thắng bằng gươm giáo.
Nhưng ta hiểu rằng nếu chỉ lấy ít chống nhiều, Lam Sơn khó đi đến ngày cuối cùng.
Tôi hình dung một đêm ở doanh trại giữa rừng Thanh Hóa. Lê Lợi ngồi trước bản đồ, ánh lửa hắt lên gương mặt đầy suy tư. Các tướng bàn chuyện phục kích, tập kích, phá đường vận lương của giặc.
Ta lặng im nghe hết.
Rồi mới nói:
“Thưa minh công, đánh thành là hạ sách. Đánh quân là trung sách. Đánh vào lòng người mới là thượng sách.”
Mọi người im lặng.
Lê Lợi nhìn ta rất lâu:
“Giặc đang chiếm nước ta, lòng người nào mà đánh?”
Ta đáp:
“Lòng dân Đại Việt.”
Ta nói rằng quân Minh tuy mạnh nhưng không được dân yêu. Dân đang chịu sưu thuế, lao dịch, cảnh mất nước và áp bức. Nếu nghĩa quân biết giữ kỷ luật, không cướp bóc, không làm hại dân, biết chia sẻ gian khổ với dân, thì dân sẽ tự tìm đến với Lam Sơn.
Ta lại nói:
“Có thể hôm nay họ chưa dám theo ta. Nhưng nếu họ tin ta khác giặc Minh, thì ngày mai họ sẽ nuôi ta, che ta, dẫn đường cho ta.”
Lê Lợi không trả lời ngay.
Ngoài rừng, tiếng côn trùng vang lên trong đêm tối.
Một lúc sau, ông hỏi:
“Nếu dân không tin thì sao?”
Ta cúi đầu:
“Vậy thì dù thắng vài trận, ta cũng không giữ được nước.”
Đó không phải lời nói để làm đẹp lòng chủ tướng. Đó là điều ta đã học từ những năm sống ở Đông Quan, khi tận mắt thấy dân khổ vì quan Minh, thấy những cuộc nổi dậy thất bại vì không đủ lòng người, thấy một đất nước có thể mất thành nhưng chưa mất ý chí của dân chúng.
Từ sau đêm ấy, theo cách kể của người sưu tầm lịch sử, ta thấy Lê Lợi càng chú ý hơn đến việc giữ phép quân. Nghĩa quân đi qua làng phải trả tiền khi lấy lương thực, không được xâm phạm dân, phải bảo vệ người nghèo và người yếu.
Dần dần, điều kỳ lạ xảy ra.
Dân bắt đầu mở cửa.
Có người giấu thóc cho nghĩa quân.
Có người dẫn đường qua rừng.
Có người báo tin khi quân Minh kéo đến.
Có người cho con trai theo Lam Sơn.
Ta hiểu rằng những hạt thóc ấy quý hơn vàng, những lời báo tin ấy quý hơn một đạo quân nhỏ.
Nhiều năm sau, khi viết Bình Ngô đại cáo, ta đã viết:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.”
Người đời thường nhớ câu ấy như một lời văn đẹp. Nhưng với ta, đó là kinh nghiệm được trả bằng máu và nước mắt.
Ta từng thấy triều đại mất vì không giữ được lòng dân.
Ta từng thấy nghĩa quân sống nhờ lòng dân.
Vì thế, khi khuyên Lê Lợi, ta không chỉ khuyên đánh giặc. Ta khuyên xây dựng một cuộc khởi nghĩa mà dân có thể gửi gắm hy vọng.
Tôi thường nghĩ, sức mạnh lớn nhất của Lam Sơn không phải ở gươm của Lê Lợi hay bút của Nguyễn Trãi.
Mà ở chỗ người dân tin rằng cuộc khởi nghĩa này là vì họ.
Và khi một cuộc chiến đã đi vào lòng dân, thì dù đường có dài, núi có cao, giặc có mạnh, ngọn lửa ấy cuối cùng cũng sẽ cháy thành ngày độc lập.
Bài học lịch sử
Muốn thắng lâu dài phải thắng được lòng người. Sức mạnh quân sự có thể tạo ra chiến thắng trước mắt, nhưng chỉ có lòng dân mới tạo nên thắng lợi bền vững và giữ được độc lập sau chiến tranh.


