Khí tiết vững vàng suốt 15 năm tại "Địa ngục trần gian" Côn Đảo
Bối cảnh sa lưới và bản án khổ sai Cuối thập niên 1920, phong trào cách mạng tại Sài Gòn và Nam Kỳ phát triển vô cùng mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của tổ chức Công hội Đỏ do đồng chí Tôn Đức Thắng sáng lập. Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân đã làm chính quyền thực dân Pháp ăn không ngon, ngủ không yên. Tháng 7 năm 1929, mượn cớ vụ án mạng ở đường Barbier (nay là đường Thạch Thị Thanh, TP.HCM), thực dân Pháp đã mở một chiến dịch đàn áp quy mô lớn, lùng sục bắt bớ hàng loạt cán bộ cách mạng. Đồng chí Tôn Đức Thắng sa vào tay giặc. Mặc cho chúng dùng mọi cực hình tra tấn dã man từ đổ nước xà phòng, quay điện đến đánh đập tàn bạo, người thủ lĩnh của Công hội Đỏ vẫn cắn răng chịu đựng, không hé nửa lời khai báo, kiên quyết bảo vệ cơ sở cách mạng. Bất lực trước ý chí sắt đá của ông, năm 1930, tòa án thực dân đã kết án Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai và đày ra nhà tù Côn Đảo – nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian" không có ngày về.
Bước chân vào Hầm xay lúa – Nơi bóc lột đến tận xương tủy Đến Côn Đảo, Bác Tôn mang số tù 5289.20 TF. Ngay từ những ngày đầu, bọn chúa đảo đã rắp tâm muốn tiêu diệt người cộng sản kiên trung này. Chúng tống ông vào Hầm xay lúa – nơi được coi là khu vực đày đọa khủng khiếp nhất, một cỗ máy giết người không dao của nhà tù Côn Đảo. Hầm xay lúa thực chất là một căn hầm tối tăm, ngột ngạt, rộng chưa đầy trăm mét vuông nhưng giam giữ hàng chục người tù. Cả ngày lẫn đêm, hầm mù mịt bụi cám, khói trấu bốc lên đặc quánh khiến người ta không thể mở nổi mắt, hơi thở khò khè, phổi đặc nghẹt vì hít phải bụi lâu ngày.
Công việc xay lúa là một cực hình thực sự. Những chiếc cối xay khổng lồ bằng đá và gỗ nặng hàng tạ, phải cần đến sức vóc của 4-6 người thanh niên khỏe mạnh mới có thể quay nổi. Bọn cai ngục người Pháp và bọn "cặp rằn" (những tay anh chị, lưu manh được thực dân sử dụng để cai trị tù nhân) liên tục cầm roi da, gậy gộc quất xuống lưng những người tù đang ướt đẫm mồ hôi. Ai làm chậm, ai kiệt sức gục xuống đều bị đánh đập tàn nhẫn, thậm chí bị đánh cho đến chết rồi quăng xác ra nghĩa địa Hàng Dương. Thực dân Pháp đinh ninh rằng, với chế độ lao động khổ sai cùng cực ấy, một người đã ngoài 40 tuổi như Tôn Đức Thắng sẽ chẳng mấy chốc mà bỏ mạng.
Cảm hóa cái ác bằng tấm lòng đại nhân, đại nghĩa Nhưng chúng đã lầm to. Giữa chốn hầm ngục tăm tối ấy, Tôn Đức Thắng không những không gục ngã mà còn vươn lên trở thành ngọn đuốc sáng soi rọi niềm tin cho những người bạn tù. Nhờ có sức khỏe của một người thợ máy nhiều năm rèn luyện, ông luôn nhận những phần việc nặng nhọc nhất về mình, tự tay kéo cối, đẩy cối để giảm bớt gánh nặng cho những đồng chí ốm yếu.
Đặc biệt nhất là nghệ thuật cảm hóa con người của Bác Tôn. Bọn "cặp rằn" trong Hầm xay lúa vốn là những tay anh chị giang hồ cộm cán, bị mất tính người do sự cai trị tàn bạo của chế độ nhà tù, chuyên đánh đập tù chính trị để lấy lòng bọn giám ngục. Nhưng trước phong thái ung dung, sự bao dung và đức hy sinh của Bác Tôn, những tên lưu manh tàn bạo nhất cũng phải cúi đầu nể phục. Bác không dùng bạo lực để chống lại chúng, mà dùng tình người để thức tỉnh lương tri. Bác nhường cơm xẻ áo cho những người ốm đau, kể cả những người tù thường phạm. Bác chỉ cho họ thấy ai mới là kẻ thù thực sự bóc lột mình. Sự chân thành và nhân cách vĩ đại của người cộng sản Tôn Đức Thắng đã làm những tên "cặp rằn" rớt nước mắt, tự nguyện buông roi, không đánh đập anh em tù nhân nữa. Thậm chí, nhiều người trong số họ sau này đã được Bác giác ngộ, trở thành những chiến sĩ cách mạng trung kiên.
Thành lập Chi bộ Đảng và 15 năm giữ lửa Không cam chịu ngồi chờ chết, cuối năm 1932, Tôn Đức Thắng cùng một số đồng chí khác đã bí mật thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ngay tại nhà tù Côn Đảo. Ông trực tiếp tham gia chỉ đạo các cuộc đấu tranh tuyệt thực đòi quyền sống, đòi cải thiện chế độ sinh hoạt, đòi giảm giờ làm. Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, Hầm xay lúa từ một nơi dùng để vắt kiệt sức lực của những người yêu nước, đã biến thành một trường học cách mạng. Tại đây, những tờ báo tường bí mật được chuyền tay nhau, những bài giảng về Chủ nghĩa Mác - Lênin được Bác Tôn và các đồng chí truyền đạt qua những lời thì thầm trong đêm tối.
Suốt 15 năm đằng đẵng (1930 - 1945), Bác Tôn đã nếm đủ mọi đòn roi, bị đày ải qua các trại giam khắc nghiệt nhất, từ Hầm xay lúa đến Sở Lưới. Mái tóc đã điểm bạc, vóc dáng người thợ máy vạm vỡ ngày nào đã hao gầy vì sương gió lao tù, nhưng đôi mắt ông vẫn sáng ngời niềm tin vào ngày chiến thắng. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng và Chính phủ đã cử tàu ra đón những người con ưu tú từ Côn Đảo trở về đất liền. Ngày bước lên mũi tàu hướng về Tổ quốc tự do, Tôn Đức Thắng mang trong mình vóc dáng của một người chiến thắng vĩ đại – chiến thắng kẻ thù, chiến thắng cái chết và chiến thắng mọi giới hạn chịu đựng của con người.


