Bài viết

KHỔ CỰC VÀ NHỮNG NỖI ĐAU ĐỜI MẸ - Viết về Mẹ VNAH Lê Thị Tỷ

Vĩnh Long14/01/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Vĩnh Thành (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Vĩnh Thành)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Lê Thị Tỷ, sinh năm 1928 và mất năm 1969, tại xã Long Thới, Chợ Lách, Bến Tre. Cuộc đời làm vợ, làm mẹ của Mẹ chất chứa biết bao là đau khổ, là máu và nước mắt nhưng lại rất anh hùng.

Mẹ có chín người con: bốn trai, năm gái. Tất cả những đứa con trai của Mẹ đều cùng chí hướng của cha, theo cha đi làm cách mạng, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Và, tất cả đã vĩnh viễn ra đi, đã hy sinh anh dũng trong chiến đấu chống lại quân thù, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Khi chồng của Mẹ, ông Nguyễn Văn Sánh cùng bốn người con trai chia tay gia đình, đi vào chiến khu thì gánh nặng gia đình chồng chất trên đôi vai gầy yếu của Mẹ. Mẹ sống rất khổ cực.

Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non (Ca dao)

Bài ca dao ấy gần giống với cuộc đời của Mẹ. Nhưng có khác là không phải nuôi chồng mà là thay chồng nuôi con, nuôi cháu. Mẹ là người vừa nuôi nấng, vừa bảo vệ cho năm đứa con gái và hai đứa cháu nội để chồng và con an tâm đánh giặc.

Chồng của Mẹ làm công tác tài chính. Lâu lâu, thuận đường công tác, ông cũng về thăm nhà. Những tối ấy, cả nhà vui lắm. Mẹ kể chuyện về gia đình, hỏi thăm về người con thứ hai (anh Nguyễn Văn Thọ) cùng công tác chung đơn vị với chồng. Sau những bữa cơm tối vội vàng, với một ít gạo, ít thuốc hút, tiền nong... Mẹ chắt chiu gửi cho bộ đội.

Lúc ấy, Mẹ sống rất lận đận, lao đao, cơ cực trong vòng vây dày đặc của đồn bốt. Nhà của Mẹ ở An Phú (Long Thới) nằm trong vùng oanh kích tự do của giặc. Máy bay trực thăng quần lượn suốt ngày, thấy người thì bắn, thấy nhà cũng bắn, thấy lùm cây cũng bắn... Cà nông của giặc ở Minh Đức thụt qua, ở Sóc Sải thụt lại. Cà nông thụt buổi sáng, cà nông thụt buổi trưa, buổi tối... Chúng bắn đại bác như là một thói quen man dại trước bữa ăn. Nhà cửa của Mẹ và bà con lối xóm đều tan nát, cháy thành tro. Những cây dừa trong xóm đều xơ xác, trơ trụi, mình mẩy đầy thương tích, loang lổ.

Mẹ có 06 công vườn, nhưng có làm được gì đâu. Đất vườn của Mẹ đầy hố bom, mà là bom đìa. Mỗi hố bom làm hư cả một công đất (mãi đến năm 1999 – Cô Nguyễn Thị Phượng – con gái út của Mẹ mới lấp bằng hai hố bom lớn).

Để bảo vệ tính mạng của đàn con cháu, Mẹ phải tản cư ra Vĩnh Thành ở. Lúc ấy, Mẹ nghèo lắm, khổ lắm! Người đàn bà ốm yếu, gầy gò phải cưu mang bảy miệng ăn trong hoàn cảnh túng thiếu, hoạn nạn, sơ tán.

Mẹ làm mướn, làm thuê kiếm sống. Nhưng thời chiến tranh, việc làm hiếm lắm. Mẹ lại thường bệnh hoạn, đau ốm. Nỗi lo lắng cho chồng, cho con đang chiến đấu, nỗi lo chạy giặc, lo cơm gạo, thuốc men, nợ nần tứ phía... làm Mẹ ngày càng héo hon, còm cõi.

Cái tin báo tử về người con thứ hai, liệt sĩ Nguyễn Văn Kim (tự Phước) hy sinh oanh liệt trong một trận càn của địch ở Hưng Khánh Trung làm Mẹ đau đến xé lòng, như cắt từng đoạn ruột.

Tang tóc lại đến với gia đình Mẹ. Người con trai thứ sáu của Mẹ, liệt sĩ Nguyễn Văn Thuyền (tự Phụng), chiến sĩ đặc công, đã hy sinh ở Tiền Giang. Lúc ấy, Mẹ như ngây, như dại. Mẹ chỉ mong cho cách mạng mau chóng thành công để gặp lại chồng và hai người con trai còn lại. Ngày ngày Mẹ chờ tin cách mạng. Mẹ nghe ngóng về tin của chồng và con. Sức khỏe của Mẹ đã yếu đi. Mẹ bị bệnh nặng phải đi nhà thương tỉnh điều trị.

Trên giường bệnh, một cái tin như sét đánh trúng ngay vào trái tim chất chứa quá nhiều đau khổ của Mẹ: chồng Mẹ, ông Nguyễn Văn Sánh – và con trai thứ hai của Mẹ – liệt sĩ Nguyễn Văn Thọ – đã hy sinh trong một trận biệt kích của địch vào vườn Trăm công (Tân Thiềng) vào tháng 10 ÂL, năm Mậu Thân. Mẹ nằm ở giường bệnh mà không nói gì, chỉ khóc.

Về nhà, bệnh Mẹ ngày càng một tăng. Mẹ không chịu thang thuốc gì hết. Vài tháng sau cái chết của chồng, của con, Mẹ rầu quá rồi cũng mất đi ở cái tuổi bốn mươi mốt, cái tuổi còn rất trẻ so với cuộc đời người.

Có lẽ niềm hy vọng của Mẹ trước khi mất tập trung vào người con trai thứ bảy, chiến sĩ chủ lực miền, người con duy nhất mà Mẹ chưa biết tin. Nhưng hy vọng vẫn còn hơn thêm đau đớn, nếu Mẹ còn sống. Người con trai thứ bảy của Mẹ đã hy sinh ở một nơi nào đó trên Tổ quốc mà đến nay không ai biết mộ phần ở đâu. Anh không vợ, không con, không ai biết ngày anh hy sinh. Và, anh cũng chưa được công nhận là liệt sĩ...?

Cuộc đời Mẹ anh hùng như thế! Mẹ xứng đáng được Chủ tịch Trường Chinh truy tặng Huân chương độc lập hạng nhì (16/12/1986) và Chủ tịch Lê Đức Anh công nhận “Bà Mẹ Việt Nam anh hùng” (24/4/1995).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn