KHO TRUNG CHUYỂN VĨNH THÁI VÀ NGƯỜI CON GÁI VĨNH LINH.
Đầu tháng 5/1972, mặt trận mở tuyến vận chuyển hậu cần bằng đường biển từ Vĩnh Thái vào Gia Đẳng để hỗ trợ chiến trường Quảng Trị. Trung đoàn 202 thường xuyên vận chuyển đạn, xăng dầu và nhu yếu phẩm ra Vĩnh Thái để chuyển tiếp bằng thuyền máy. Trong thời gian kiểm tra việc vận chuyển tại đây, tác giả có những khoảnh khắc hiếm hoi bình yên giữa chiến tranh, sống cùng tiểu đội của Hoạt và quen biết o Khuê, cô giáo làng chài. Đến cuối tháng 6 khi địch chiếm lại Gia Đẳng, tuyến vận chuyển dừng hoạ
Đầu tháng 5, song song với việc tổ chức vận chuyển trên đường Trường Sơn, mặt trận tổ chức một tuyến vận chuyển theo đường biển chủ yếu cho các đơn vị cánh Đông Mặt trận Quảng Trị, trong đó có lực lượng của Trung đoàn 202, cụ thể là Sở chỉ huy cơ bản và Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 66. Vị trí tập kết hàng là một bãi biển thuộc xã Vĩnh Thái. Tại đây các đơn vị có nhu cầu vận chuyển hàng vào phía Nam sẽ chở hàng đến. Hậu cần của mặt trận sẽ tổ chức quản lý và dùng thuyền máy vận chuyển dọc theo bờ biển vào đến Gia Đẳng. Tại Gia Đẳng các đơn vị có hàng sẽ cử người đến nhận và đưa về đơn vị.
Vào thời gian này ta đã giải phóng căn cứ Đông Hà và thị xã Quảng Trị, quân ta đã tiến đến sông Thạch Hãn. Địch băt đầu phản kích dữ dội. Ở phía nam sông Bến Hải địch thường xuyên sử dụng B-52 đánh phá vào các vị trí đóng quân của ta. Ở phía Bắc B-52 cũng đã đánh vào nông trường Quyết Thắng. Trong các khu rừng cao su của nông trường là điểm đóng quân hoặc hậu cứ của nhiều đơn vị trong đó có hậu cứ của Trung đoàn 202.
Ngoài ra khi còn ở nông trường Quyết Thắng tôi còn nhìn thấy nhiều bãi lắp ráp tên lửa. Đó là những mục tiêu đánh phá dữ dội của địch khi chúng phát hiện thấy.
Qua đài phát thanh chúng tôi biết được cứ mỗi ngày đêm, địch sử dụng khoảng 60 phi vụ B-52 trên chiến trường Quảng Trị. Hàng đêm ở Sở chỉ huy chúng tôi nghe thấy tiếng bom rền từ miền Tây Vĩnh Linh, từ phía Nam sông Bến Hải và những ánh chớp liên hồi suốt từ đầu hôm cho đến sáng. Ban ngày trên đường đi công tác, nếu dừng chân trên một ngọn đồi ở Vĩnh Linh nhìn về phía Nam, ta có thể thấy những đụn khói của bom B-52 cuồn cuộn, hết nổi lên ở nơi này lại đến nơi khác. Kèm theo là tiếng nổ vang rền của những loạt bom B-52, tất cả các làng mạc đều trở thành mục tiêu của B-52. Bởi vì hầu như tất cả các làng mạc cũng đều là chỗ trú quân của bộ đội ta. cả mảnh đất Quảng Trị dài và hẹp ngập chìm trong bom đạn. Nhiều đêm từ Sở chỉ huy nhìn lên phía đường Trường Sơn, những con đường ở lưng chừng núi, chúng tôi có thể nhìn thấy ánh đèn gầm của những chiếc xe vận tải chạy qua những đoạn đường đang bị máy bay oanh tạc, những cánh rừng đang cháy.
Việc vận chuyển trong thời gian này là rất căng thẳng, đặc biệt là trên tuyến đường Trường Sơn. Vì vậy, thiết lập tuyến vận chuyển bằng thuyền máy dọc theo bờ biển là một sáng kiến của hậu cần mặt trận.
Trong gần 1 tháng, đêm đêm chúng tôi chở hàng từ kho trung đoàn ra Vĩnh Thái. Hàng gồm có đạn, xăng dầu, quân trang, quân lương, nhu yếu phẩm và thuốc quân y. Tôi đi một vài chuyến đầu sau đó công việc chở và áp tải hàng hóa từ kho trung đoàn ra Vĩnh Thái và từ Vĩnh Thái vào Gia Đẳng bằng thuyền máy đều do đồng chí Hoạt, binh nhất tiểu đội trưởng bảo quản kho đạn đảm nhiệm. Đồng chí Hoạt mới ngoài 20 tuổi nhưng có vẻ già dặn. Đó là một người lính rất dũng cảm và có bản lĩnh. Một người lính mà sau khi rời khỏi trung đoàn về trường tôi vẫn còn nhớ mãi. Nhưng cho đến nay chúng tôi vẫn chưa có dịp gặp lại nhau. Giờ đây không biết đồng chí ở nơi đâu?
Đường vận chuyển từ kho trung đoàn ra Vĩnh Thái thì không có gì nguy hiểm, vì địch chưa phát hiện ra con đường này. Nhưng đoạn vận chuyển từ Vĩnh Thái dọc theo bờ biển vào đến Gia Đẳng là đoạn rất nguy hiểm. Ngoài khơi từ bờ biển Vĩnh Linh vào đến hết tỉnh Quảng Trị hơn một chục chiếc tàu chiến Mỹ án ngữ. Pháo 175mm trên các tàu chiến Mỹ liên tục bắn vào đất liền. Những nơi chúng nghi là nơi giấu quân của quân ta. Các máy bay trinh sát bay lượn ngày đêm trên bầu trời chỉ thị mục tiêu cho các máy bay cường kích và các tàu chiến ngoài khơi.
Dọc theo bờ biển, máy bay OV-l0 thả pháo sáng và quan sát đường vận chuyển của ta. Tiểu đội bảo quản kho của đồng chí Hoạt đóng quân hẳn ở Vĩnh Thái. Đêm đêm vận chuyển hàng từ kho trung đoàn đến Vĩnh Thái và cứ vài ngày một lần lại đưa hàng xuống thuyền máy đi dọc bờ biển vào đến Gia Đẳng và giao cho bộ phận hậu cần trung đoàn ở phía nam.
Vài ngày một lần, tôi lại ra Vĩnh Thái để kiểm tra việc tập kết hàng và việc vận chuyển hàng hoá bằng đường biển. Mỗi lần đi kiểm tra, tôi phải ngủ lại Vĩnh Thái vì khi xếp xong hàng xuống thuyền thì trời đã khuya. Là điểm tập kết hàng, ban đêm hoạt động ở Vĩnh Thái rất nhộn nhịp, xe chở hàng vào, bộ đội, dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong, đưa hàng vào vị trí. Đạn dược và xăng dầu được vùi xuống các cồn cát. Các loại quân lương, quân trang và nhu yếu phẩm thì được để trong các nhà kho tạm giống như nhà ở của dân. Hàng của đơn vị nào, đơn vị đó quản lý.
Từ 2 giờ sáng các hoạt động thưa dần và đến sáng thì nơi đây trở nên rất yên tĩnh. Bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến vào nhà dân hoặc lán nghỉ ngơi sau một đêm làm việc. Còn dân chài thì lại ra khơi đánh cá. Máy bay trinh sát vẫn bay lượn trên trời nhưng có vẻ như chúng chưa phát hiện ra điều gì ở nơi đây.
Tiểu đội của đồng chí Hoạt ở nhờ trong một nhà dân, chủ nhà là ông trưởng công an xã. Ban ngày ông thường đi vắng, nhưng buổi chiều nào về nhà ông cũng đem theo một xâu cá khoảng 5, 6 cân. Có lẽ ông làm công an xã nhưng vẫn ra khơi đánh cá. Ông có một cô con gái là giáo viên tiểu học tên là Khuê. Chúng tôi vẫn gọi là o Khuê, dạo này o Khuê không đi dạy học mà ở nhà. Tôi nghĩ chắc từ khi ta mở chiến dịch, địch quay lại đánh phá nên các trường đã nghỉ học. O Khuê ở nhà và nghiễm nhiên trở thành người lo cơm nước cho tiểu đội của Hoạt. Ở Sở chỉ huy hậu phương chúng tôi có cơm với thịt hộp, lương khô và bột trứng. Ăn mãi cũng ngán, ra đây bộ đội ngày nào cũng được ăn cá biển, thỉnh thoảng rủ nhau ra tắm biển cứ như đi nghỉ mát. Nhưng ban đêm thì vất vả, nhất là nhưng đêm phải áp tải thuyền vào Gia Đẳng.
Ở đây, tôi cũng được anh em đưa đi tắm biển. Trưa về ăn cơm với canh cá do o Khuê nấu. Quả là nhũng giờ phút thanh bình hiếm thấy trong thời buổi bom rơi đạn lạc này.
Trong cái làng chài nhỏ bé ở xã Vĩnh Thái, có lẽ o Khuê là người con gái xinh đẹp nhất. O có một thân hình cân đối, đầy đặn, nước da trắng trẻo và một khuôn mặt rất ưa nhìn. O Khuê rất thích hát. Vào những khi rỗi rãi, tôi vẫn dạy cho o hát bài "Người con gái sông La". Đó là một bài hát rất hay. Nhưng không phải ai cũng hát được. O Khuê cứ say sưa hát và tôi thì có dịp được ngắm nhìn o.
Khoảng cuối tháng 6, địch phản kích chiếm Gia Đẳng. Con đường vận chuyển trên biển từ Vĩnh Thái vào Gia Đẳng không hoạt động nữa, chúng tôi ít có dịp ra Vĩnh Thái và cũng ít gặp lại o Khuê, nhưng nhiều năm đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ những ngày ở Vĩnh Thái, những khoảnh khắc bình yên ngắn ngủi và hình bóng của o Khuê, một bông hoa trong những ngày lửa đạn.
Sau này khi đã trở về trường, tôi đã gặp gỡ và quen biết nhiều người con gái nhưng không ai để lại ấn tượng trong tôi như o Khuê và tôi tự nghĩ: Trong những ngày ở Vĩnh Thái, mình đã bỏ qua một cơ hội không dễ gì tìm thấy lại trong đời.



