KHOAN DUNG, NHÂN ÁI HỒ CHÍ MINH – MỘT GIÁ TRỊ ĐẶC TRƯNG CHO VĂN HÓA HÒA BÌNH
Doãn Thị Minh Thu

Thế kỷ XX đã qua với hai cuộc chiến tranh thế giới và hàng trăm cuộc chiến tranh khu vực lớn nhỏ. Nỗi khủng khiếp trước thảm họa Hiroshima và Nagasaki đến nay vẫn chưa thôi nhức nhối trong trái tim nhân loại. Hòa bình là khát vọng của nhân loại, bởi trong thực tế tồn tại mấy nghìn năm qua, loài người chưa bao giờ được sống trong một thế giới hòa bình trọn vẹn. Muốn có hòa bình lâu dài phải tạo lập trước hết một nền văn hóa hòa bình mà linh hồn của nó chính là lòng nhân ái, khoan dung.
"Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng bác ái" – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói như vậy, và chính Người là biểu tượng, là tinh hoa của khoan dung, nhân ái Việt Nam.
Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở lòng yêu thương mênh mông, sâu sắc đối với con người
Người có niềm tin vào phần tốt đẹp, phần thiện trong mỗi con người, dù nhất thời họ có lầm lạc. Người nhắc nhở chúng ta "phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi". "Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ."
Đối với những quan lại cũ, cả với những người từng có nợ máu với cách mạng, Người khuyên "không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới,... mà nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung". Người nhắc nhở phải vượt qua những thiên kiến, hẹp hòi: "Sông to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu."
Chính sách đại đoàn kết và tấm lòng khoan dung, độ lượng của Bác Hồ đã làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, cảm hóa được nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ, một lòng đi theo cách mạng và kháng chiến.
Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở thái độ trân trọng, cái nhìn rộng lượng đối với những giá trị khác nhau của văn hóa nhân loại
Người xa lạ với mọi thói kỳ thị văn hóa. Trong khi chống Pháp, Người vẫn yêu mến và đề cao văn hóa Pháp; chống Mỹ và vẫn ca ngợi truyền thống đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Mỹ. Bản thân Người là hình ảnh kết tinh của tinh hoa văn hóa nhân loại Đông và Tây. Người viết: "Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ."
Là một nhà ngoại giao biết thương lượng, Hồ Chí Minh biết tìm ra mẫu số chung cho mọi cuộc đối thoại. Người nói với người Pháp: "Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức tự do, bình đẳng, bác ái độc lập."
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Với các tôn giáo, Người thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lẽ sống cao đẹp, những giá trị đạo đức - nhân văn của các vị sáng lập, khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Tại cuộc họp mặt đại biểu các tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Giatô giáo tin ở Đức Chúa Trời, cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với nhân dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn làm gì, ta phải theo nấy."
Chính J.Sainteny thừa nhận: "Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để thấy nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu bất kỳ một tôn giáo nào."
Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh được xây dựng trên nguyên tắc công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng
Người không chấp nhận thỏa hiệp vô nguyên tắc với tội ác, bất công và tất cả cái gì chà đạp lên "quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" của mỗi con người và mỗi dân tộc. Người nói: "Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân."
Trong cuộc xung đột Việt - Pháp, giữa hai giải pháp hòa bình và bạo lực, Hồ Chí Minh luôn luôn chọn giải pháp hòa bình. Người đã chấp nhận thỏa hiệp, nhân nhượng: ký Hiệp định sơ bộ 6/3 rồi Tạm ước 14/9; không quản bất trắc, hiểm nguy, Người sang tận thủ đô nước Pháp để tìm kiếm hòa bình.
Đến khi đối phương buộc chúng ta phải cầm súng đứng lên tự vệ, Người đã luôn giáo dục chúng ta biết phân biệt bọn thực dân xâm lược phản động với nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình. Người nói một cách xúc động: "Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt đều là máu, người Pháp hay là người Việt đều là người." Người nhắc nhở mục tiêu là đánh bại, đánh sập ý chí xâm lược của địch chứ không phải tiêu diệt hoàn toàn chúng. Người nói: "Đánh mà thắng là giỏi, nhưng không đánh mà thắng lại giỏi hơn."
Đối với những tù binh và thường dân Pháp bị bắt, Người kêu gọi đối xử khoan hồng để "cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước". Một lần đến thăm trại tù binh Pháp, thấy một đại úy quân y Pháp ở trần, đang run lên vì lạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cởi chiếc áo mình đang mặc trao cho anh ta.
Trong thư gửi tướng R.Xalăng, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương (6/1947), Người viết: "Chúng ta đã từng là những người bạn tốt... Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng ta thành hai kẻ đối địch. Điều đó thật đáng tiếc!... Vì chúng ta buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta trở thành bạn hữu của nhau."



