Khối đá ngàn cân và cái chết hóa thành bất tử
Nguyễn Thị Khánh Huyền
Đầu năm 1954, Quân đội Nhân dân Việt Nam chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Để đánh bại tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của quân Pháp, ta bắt buộc phải đưa những khẩu pháo hạng nặng (pháo cao xạ 37mm, lựu pháo 105mm) lên các đỉnh núi cao bao vây thung lũng Mường Thanh. Do không có máy móc, toàn bộ các khẩu pháo nặng từ 2 đến 3 tấn đều phải di chuyển hoàn toàn bằng sức người. Các chiến sĩ phải dùng dây tời, dây tơi kéo pháo vượt qua những con dốc dựng đứng 30 - 40 độ, vực sâu thăm thẳm, trong điều kiện đêm tối và máy bay địch liên tục bắn phá. Anh Tô Vĩnh Diện (quê Thanh Hóa) khi đó là Tiểu đội trưởng pháo cao xạ thuộc Đại đội 827, Đại đoàn 367.
Sau nhiều ngày đêm "khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt", đội hình kéo pháo của Tô Vĩnh Diện đã đưa được những khẩu pháo vào trận địa an toàn. Tuy nhiên, để đảm bảo bí mật và thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc", Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh: Kéo pháo ra. Kéo pháo vào đã gian khổ, kéo pháo ra dọc theo những con dốc dựng đứng lại càng nguy hiểm gấp bội.
Đêm ngày 1 tháng 2 năm 1954, tiểu đội của Tô Vĩnh Diện chịu trách nhiệm điều tiết, giữ dây hãm cho một khẩu pháo cao xạ 37mm nặng hơn 2,4 tấn xuống dốc chuối [2] – một con dốc dài, dốc đứng và ngoằn ngoèo nằm bên vực sâu bên hốc núi bạt ngàn. Trời mưa, đường đất đỏ trơn như đổ mỡ. Mỗi bước chân của người lính đều phải bám chặt vào từng rễ cây, thớ đá.
Khi khẩu pháo đang từ từ hạ dốc, một tình huống rùng rợn xảy ra: Máy bay địch bất ngờ thả pháo sáng rực trời và nã đạn vu vơ xuống thung lũng. Một quả đạn pháo nổ gần đó làm đứt phựt sợi dây tời chính. Mất lực giữ, khẩu pháo khổng lồ nặng hơn 2 tấn bắt đầu lao băng băng xuống dốc theo quán tính, càng lúc càng nhanh.
Khẩu pháo lao điên cuồng, kéo lê cả những chiến sĩ đang cố ghì giữ các sợi dây phụ. Anh pháo thủ Nguyễn Văn Chi bị càng pháo gạt văng xuống vực. Trong đêm tối, khẩu pháo lao tự do hướng thẳng về phía một bờ vực thẳm sâu hoắm, nơi nếu pháo rơi xuống thì không chỉ mất đi vũ khí vô giá của chiến dịch, mà toàn bộ công sức của hàng trăm con người suốt một tháng qua sẽ tan thành mây khói.
Trong khoảnh khắc sinh tử chỉ tính bằng phần ba giây, Tô Vĩnh Diện không hề do dự. Anh buông sợi dây hãm, dùng hết sức bình sinh lao thẳng người về phía trước, hướng vào bánh xe pháo đang lăn xả, chủ động đem thân mình làm một khúc chèn gỗ sống.
Rầm! Khẩu pháo khổng lồ khựng lại sau khi đè nghiến lên cơ thể của anh. Bánh xe pháo mắc kẹt vào một mô đất và thân thể của người tiểu đội trưởng, dừng lại ngay sát mép bờ vực thẳm chỉ trong gang tấc.
Đồng đội lao đến, nâng càng pháo lên để đưa Tô Vĩnh Diện ra ngoài. Cơ thể anh đã bị dập nát, hơi thở thoi thóp nhưng khi mở mắt ra nhìn thấy các chiến sĩ đang khóc xung quanh, câu đầu tiên anh hỏi bằng giọng thào thào không phải là về vết thương của mình, mà là:
– Pháo có làm sao không các đồng chí?
Nghe đồng đội nghẹn ngào trả lời: "Pháo an toàn rồi anh ơi!", Tô Vĩnh Diện khẽ mỉm cười. Anh trút hơi thở cuối cùng ngay trên tay đồng đội khi tuổi đời mới tròn 30. Sự hy sinh anh dũng, lấy thân chèn pháo của Tô Vĩnh Diện đã giữ vẹn nguyên "con mắt lửa" cho chiến dịch, tiếp thêm ý chí chiến đấu sục sôi để các chiến sĩ bắn rơi hàng loạt máy bay Pháp, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.



