Cựu chiến binh

Khói lửa đường đến Sài Gòn

Khói lửa đường đến Sài Gòn

Ninh Bình16/04/2026Nguyễn Thị Thu (chi đoàn Tiểu học Nghĩa Sơn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khói lửa đường đến Sài Gòn

Nhập ngũ tháng 8/1971, khi vừa bước sang tuổi 18, sau thời gian huấn luyện bộ binh khoảng 2 tháng, có biệt tài bắn súng nên chàng trai trẻ Ngô Sỹ Nguyên (quê Nghệ An) được nhận về đơn vị Tăng thiết giáp và đảm nhiệm vị trí pháo thủ xe tăng T59, số hiệu 390 (thuộc Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng 203, Quân đoàn 2).

Sau khi huấn luyện tân binh vào cuối năm 1971, ông Nguyên nhận nhiệm vụ vào Nam chiến đấu. Những ngày đầu, đơn vị chủ yếu đóng quân, tham gia chiến đấu tại khu vực biên giới Việt Nam - Lào.

Đến mùa Xuân năm 1975 đơn vị của ông tham gia vào các trận đánh lớn, giải phóng nhiều địa phương rồi tiến vào giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Trên chiếc xe tăng 390 khi đó có Trung úy Vũ Đăng Toàn là chính trị viên Đại đội; lái xe là Trung sĩ Nguyễn Văn Tập; pháo thủ số 1 là Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên; Phó đại đội trưởng kỹ thuật kiêm pháo thủ số 2 là Thiếu úy Lê Văn Phượng (lên thay pháo thủ số 2 bị thương).

Ngày 15/3/1975, Lữ đoàn Xe tăng 203 xuất phát từ A Lưới (Huế) đi theo quốc lộ 14B, thị trấn Khe Tre, huyện Nam Đông, Thừa Thiên - Huế xuống đánh trận Núi Bông, Núi Nghệ và Mỏ Tàu.

"Ngày 25/3/1975, chúng tôi đã tiến vào giải phóng Huế, sau đó được lệnh ra cửa Thuận An để chặn đường rút chạy của quân ngụy. Sau đó, chúng tôi tiến vào giải phóng Đà Nẵng, tiếp tục củng cố đội hình hành quân theo miền duyên hải, vừa hành quân thần tốc, vừa đánh địch", ông Nguyên kể.

Ông đánh giá, trên đường vào Sài Gòn, trận chiến ác liệt nhất là trận giải phóng Nước Trong. Trước ngày giải phóng, đây là cụm căn cứ quân sự quan trọng của địch, gồm: Trường thiết giáp, trường bộ binh và trung tâm huấn luyện biệt kích với lực lượng khoảng gần 4.000 tên, có khoảng 40 xe tăng, thiết giáp có thể chi viện cho nhau.

Ông kể, địch bố trí, xây dựng công sự liên hoàn, nhiều lớp, nhiều tầng, xung quanh được bao bọc bởi hào sâu, hàng rào dây thép gai, bãi mìn. Ngoài ra, căn cứ này còn được sự chi viện hỏa lực của Chi khu quân sự Long Thành và trận địa pháo phía Bắc sông Buông, pháo từ tàu chiến bắn lên,... nên trận đánh Nước Trong rất căng thẳng, ác liệt.

Sáng sớm 28/4/1975, xe tăng 390 vừa hành quân đến trận địa thì được lệnh lập tức tham gia chiến đấu. Lạ địa hình, ông Nguyên và đồng đội chỉ kịp hỏi những chiến sĩ đã vào trận địa trước mấy câu như: "Địch có đông không? Chúng có xe tăng không? Chúng tập trung hỏa lực ở khu vực nào?" rồi tham chiến ngay.

Thấy xe tăng của ta xuất hiện, địch bắn trả rất ác liệt, nhiều xe trúng đạn. Trong trận chiến ác liệt này, xe tăng 390 dính nhiều "vết thương" nhưng may mắn mọi người đều an toàn.

"Trong trận chiến này, đạn từ xe tăng địch xé toạc không khí, sáng rực bầu trời, lao thẳng về phía xe 390 và các xe tăng khác. May mắn, đạn từ xe tăng địch găm thẳng xuống đất, trước mũi xe, cách xe chỉ vài mét. Để chặn họng súng của địch, dọn đường cho bộ binh ta, trưởng xe Vũ Đăng Toàn hô lớn "xông lên, lao thẳng phía địch mà bắn". Câu nói dứt khoát, dõng dạc của trưởng xe Vũ Đăng Toàn đã tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi và các đồng đội", ông Nguyên nhớ lại.

Do trận chiến diễn ra lúc sáng sớm, xe tăng của địch lấp sau tán lá rừng nên rất khó phát hiện. Khi đó, ông Nguyên chợt nảy ra ý tưởng "vạch lá tìm sâu", yêu cầu pháo thủ số hai là Thiếu úy Lê Văn Phượng lắp đạn nổ, ngắm thẳng về phía ngọn cây rồi khai hỏa.

Khi đạn vừa chạm vào lá cây đã phát nổ, phá nát tán cây để lộ ra đội hình xe tăng địch. Ngay lập tức, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên ra hiệu cho pháo thủ số 2 thay đạn nổ bằng đạn xuyên giáp, hướng thẳng xe tăng địch mà bắn.

Sau đó, xe tăng 390 cùng nhiều xe tăng khác liên tục khai hỏa tiêu diệt, áp chế hỏa lực của địch, yểm trợ cho bộ binh chiếm lĩnh trận địa. Đến 13h, địch ngớt dần tiếng súng, Nước Trong được giải phóng đã tạo điều kiện cho quân đội ta tiến vào giải phóng Sài Gòn.

"Trận này bộ đội ta thương vong nhiều, tổn thất nặng song dũng khí người lính không ngừng dâng cao, nhất là tinh thần của anh em bộ binh, người này ngã xuống, người khác lại tiến lên vô cùng dũng cảm", ông Nguyên nói.

Giọng ông trầm khi nhắc đến đồng đội đã hy sinh, ông Nguyên nhớ lại: Lúc đó, tôi rất khâm phục các chiến sĩ bộ binh. Bản thân tôi được ngồi trong xe tăng, mặc dù là mục tiêu bị hỏa lực địch tấn công nhưng còn có lớp thép dày bảo vệ, còn những đồng đội bộ binh không có gì bảo vệ.

Sau trận Nước Trong, đến sáng 30/4, Tiểu đoàn tăng 1 do ông Ngô Văn Nhỡ làm Tiểu đoàn trưởng được giao nhiệm vụ chủ công mở đường vào Sài Gòn, Đại đội 3 có nhiệm vụ cắm cờ trên dinh Độc Lập.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn