Khởi nghĩa Ba Tơ – Giá trị lịch sử và bài học kinh nghiệm
Lịch sử dân tộc Việt Nam là một bản anh hùng ca bất tận về lòng yêu nước, ý chí đấu tranh và khát vọng độc lập, tự do. Trong dòng chảy lịch sử ấy, cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ (11/3/1945) đã ghi dấu ấn sâu đậm, trở thành biểu tượng của tinh thần quật khởi, đoàn kết và sáng tạo của Nhân dân Ba Tơ (Quảng Ngãi) nói riêng và cả nước nói chung. Đây là một sự kiện lịch sử tiêu biểu, không chỉ góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng trong giai đoạn tiền khởi nghĩa mà còn tạo nền tảng vững chắc cho Tổng khởi ng
Nhằm nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện, khách quan và sâu sắc hơn về giá trị lịch sử và những bài học kinh nghiệm từ cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ, Quân khu 5 phối hợp với Tỉnh ủy Quảng Ngãi tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Khởi nghĩa Ba Tơ – Giá trị lịch sử và bài học kinh nghiệm”. Hội thảo đã thu hút sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, lãnh đạo các cấp, cùng sự quan tâm của đông đảo cán bộ và Nhân dân. Với mong muốn mang đến cho quý độc giả một nguồn tư liệu phong phú, khoa học và chân thực, hiểu thêm về bối cảnh, diễn biến, kết quả, ý nghĩa và những bài học lịch sử của cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ, Báo Quân khu 5 trân trọng gửi tới bạn đọc các tham luận tiêu biểu gửi về Hội thảo:
PHONG TRÀO YÊU NƯỚC, PHONG TRÀO CÁCH MẠNG Ở NAM TRUNG BỘ
TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Trung tướng TRỊNH ĐÌNH THẠCH – Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 5
Nam Trung Bộ là một địa bàn dài và hẹp; phía đông là “mặt tiền” thông ra biển của đất nước; phía tây giáp Tây Nguyên, có sự ngăn cách tự nhiên giữa cao nguyên rừng núi và đồng bằng ven biển, đồng thời tiếp giáp với hai nước bạn Lào và Campuchia; có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của Tổ quốc. Đây là địa bàn dễ bị chia cắt chiến lược. Trong lịch sử, năm 1858, Đà Nẵng là nơi đầu tiên thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng ở Nam Trung Bộ có vai trò, ý nghĩa quan trọng, đã đóng góp không nhỏ vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với cả nước, các dân tộc ở Nam Trung Bộ chịu sự cai trị, áp bức hà khắc của thực dân. Năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ; phát-xít Nhật tràn vào Đông Dương. Nhân dân ta chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Cuộc khai thác thuộc địa, vơ vét lương thực, chiếm đoạt đất đai để lập các đồn điền, nông dân (chiếm đa số trong xã hội) phải chịu cảnh mất đất, đói nghèo, sưu cao thuế nặng, bị bóc lột, cưỡng bức lao động khổ sai. Công nhân trong các nhà máy, hầm mỏ và đồn điền phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, thường xuyên bị đánh đập, bóc lột sức lao động với đồng lương rẻ mạt, không có quyền lợi hay bảo hộ lao động khiến nhiều người tử vong vì kiệt sức hoặc tai nạn. Thực dân thực hiện chính sách “ngu dân”, khuyến khích các tệ nạn như nghiện rượu, hút thuốc phiện, cờ bạc để kiếm lợi nhuận, làm suy đồi đạo đức, xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống tinh thần của người dân, làm suy yếu ý chí đấu tranh của Nhân dân. Đồng thời, chúng còn tiến hành chính sách “chia để trị”, kích động sự chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo, và các giai tầng trong xã hội nhằm ngăn chặn sự đoàn kết, để lại hậu quả nặng nề. Xã hội bị phân hóa sâu sắc. Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh – đó là chân lý. Chính trong hoàn cảnh đó, ý chí, tinh thần đấu tranh mạnh mẽ đã được hun đúc và lan tỏa.
1. Các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng ở Nam Trung Bộ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Phong trào Duy Tân (1906 – 1908): Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp… khởi xướng và chủ trì, nhằm vận động cải cách văn hóa xã hội gắn với động viên lòng yêu nước của Nhân dân chống ách thống trị của thực dân Pháp và chế độ phong kiến. Phong trào phát triển mạnh ở Trung Kỳ, dưới các hình thức lập thương hội, phát triển công thương nghiệp, đặc biệt là vận động mở trường học, dạy chữ quốc ngữ để mở mang dân trí, giáo dục lòng yêu nước và tinh thần dân tộc cho Nhân dân. Trung Kỳ có 333 trường, lớp có giáo viên tham gia phong trào; riêng Phan Châu Trinh đã lập được 48 trường. Trong Phong trào Duy Tân còn có xu hướng bạo động vũ trang theo chủ trương của Phạm Văn Ngôn, Nguyễn Đình Kiên, Lê Văn Huân… Sự phát triển của Phong trào Duy Tân là tiền đề dẫn tới cuộc đấu tranh chống đi phu, chống sưu thuế sôi nổi ở Trung Kỳ (1908). Để đối phó, thực dân Pháp đã theo dõi, đàn áp, bắt những người cầm đầu, xử tử hoặc đưa đi đày. Phong trào Duy Tân tuy thất bại và có nhiều hạn chế, nhưng đã kết hợp với phong trào Đông Du có tác dụng khơi dậy lòng yêu nước của Nhân dân Việt Nam đầu thế kỷ XX, đặt cơ sở cho thế hệ sau của cách mạng Việt Nam tìm ra con đường cứu nước đúng đắn[1].
Phong trào Đông Du (1905 – 1909): Phong trào Đông Du vận động thanh niên Việt Nam sang Nhật học tập, theo chủ trương “xuất dương cầu viện” của Duy Tân hội, do Phan Bội Châu đề xướng và tổ chức. Sau khi tiếp cận tư tưởng dân chủ tư sản của Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn và tạo được sự giúp đỡ của một số lực lượng tiến bộ ở Nhật, Phan Bội Châu về nước mở cuộc vận động Đông Du. Từ tháng 6/1905 đến tháng 6/1908, khoảng 200 thanh niên Việt Nam, phần lớn là con cháu các sĩ phu, các nhà công thương có xu hướng yêu nước, được bí mật đưa sang Nhật đào tạo tại Trường Võ bị Chấn Vũ và Đông Á đồng văn thư viện. Cùng với việc đưa thanh niên du học, Phan Bội Châu viết sách báo tố cáo chính sách thống trị của Pháp, kêu gọi các tầng lớp Nhân dân Việt Nam đoàn kết, cách tân đất nước, phát triển kinh tế, đóng góp tài chính cho Đông Du; lập ra Công hiến hội ở Nhật để giáo dục, giúp đỡ lưu học sinh Việt Nam. Đối phó với phong trào, Pháp ráo riết tiến hành khủng bố các cơ sở cách mạng ở Việt Nam, đồng thời thỏa hiệp với chính phủ Nhật giải tán Đông Á đồng văn thư viện và Công hiến hội (9/1908), trục xuất học sinh Việt Nam về nước; tháng 2/1909 trục xuất Phan Bội Châu. Tuy thất bại do hạn chế về chính trị và bế tắc về đường lối, Phong trào Đông Du đã có tác dụng khơi dậy trong Nhân dân lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc, góp phần tạo thêm lực lượng cho phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam thế kỷ XX[2].
Phong trào chống thuế Trung Kỳ (1908): Phong trào chống thuế bắt đầu từ Quảng Nam và nhanh chóng lan rộng ra các tỉnh Nam Trung Bộ. Hàng vạn nông dân tham gia biểu tình, yêu cầu giảm thuế và cải thiện đời sống. Mặc dù bị đàn áp dã man, phong trào đã để lại tiếng vang lớn, cổ vũ tinh thần đấu tranh trong Nhân dân.
Các hội kín và hoạt động bí mật: Các hội kín xuất hiện như một hình thức đấu tranh bí mật chống lại thực dân Pháp, hoạt động chủ yếu ở Quảng Ngãi, Bình Định. Những hội này tổ chức các cuộc họp bí mật, tuyên truyền yêu nước và chuẩn bị cho các cuộc đấu tranh lớn hơn. Dù bị chính quyền thực dân khủng bố, các hội kín đã tạo nền tảng cho phong trào cách mạng sau này.
Phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản: Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), phong trào cách mạng tại Nam Trung Bộ bước sang giai đoạn mới, với cao trào Xô Viết Nghệ – Tĩnh (1930 – 1931) lan tỏa đến các tỉnh Nam Trung Bộ, nhất là ở Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên… Các cuộc biểu tình, bãi công đòi giảm sưu thuế, cải thiện đời sống diễn ra sôi nổi. Các tổ chức cơ sở Đảng được thành lập và hoạt động. Giai đoạn 1936 – 1939, phong trào tập trung vào các yêu cầu về dân chủ và dân sinh, đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng cách mạng và nâng cao ý thức đấu tranh của Nhân dân. Đặc biệt, sau khi Mặt trận Việt Minh ra đời (1941), phong trào cách mạng tại Nam Trung Bộ bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu là Khởi nghĩa Ba Tơ (11/3/1945).
Đội Du kích Ba Tơ cùng các đội du kích, đội tự vệ khác ra đời trong giai đoạn này, như: Đội Du kích Vũ Hùng (Quảng Nam); Đội Tự vệ sắt, Đội Tự vệ cứu quốc, Đại đội Tự vệ cứu quốc công nhân nhà máy dệt Đờ-li-nhông, Tự vệ hỏa xa Diêu Trì (Bình Định); Đội Tự vệ Tuy Hòa, Đội Tự vệ nhà máy đường Đồng Bò (Phú Yên); tự vệ công nhân Hòn Khói (Khánh Hòa); Đội Du kích Dư Khánh, Đội Tự vệ chiến đấu Vĩnh Hy, Đội Danh dự Tháp Chàm và Vạn Phước (Ninh Thuận); Đội Tự vệ chiến đấu của công nhân đồn điền Ca-da (Đắk Lắk). Các đội du kích, đội tự vệ được trang bị một số vũ khí, được huấn luyện quân sự và có tổ chức chỉ huy chặt chẽ. Đây là những tổ chức vũ trang tiền thân của lực lượng vũ trang Quân khu 5 sau này.
2. Đặc điểm, ý nghĩa và kinh nghiệm lịch sử của phong trào yêu nước, phong trào cách mạng ở Nam Trung Bộ trước Cách mạng tháng Tám 1945.
Về đặc điểm, phong trào yêu nước, phong trào cách mạng ở Nam Trung Bộ trước Cách mạng tháng Tám 1945 tiến hành trong điều kiện hết sức khó khăn. Phong trào bị thực dân đàn áp khốc liệt. Lực lượng lãnh đạo còn non trẻ. Thiếu thốn vũ khí, tài chính, cơ sở hạ tầng cần thiết để duy trì hoạt động lâu dài. Điều kiện sống của Nhân dân rất khó khăn, nạn đói xuất hiện khắp nơi, ảnh hưởng đến tiềm lực, sức mạnh tổng thể của phong trào. Một bộ phận quần chúng vẫn chưa được giác ngộ đầy đủ về cách mạng. Địa hình phức tạp, giao thông khó khăn cách trở ở nhiều khu vực miền núi, gây cản trở lớn cho việc liên lạc và tổ chức phong trào cách mạng. Điều này khiến phong trào chưa thể mở rộng toàn diện trên mọi địa bàn.
Ý nghĩa: Phong trào yêu nước, phong trào cách mạng đã lan tỏa tư tưởng, khơi dậy lòng yêu nước và ý chí đấu tranh của quần chúng nhân dân. Tư tưởng cách mạng theo chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá sâu rộng. Xây dựng được các tổ chức cách mạng và lực lượng chính trị, lực lượng quần chúng, bao gồm công nhân, nông dân, trí thức yêu nước, được tổ chức và đoàn kết chặt chẽ. Phong trào đấu tranh diễn ra dưới nhiều hình thức: từ tuyên truyền, biểu tình, bãi công đến các cuộc khởi nghĩa vũ trang; tiêu biểu là Khởi nghĩa Ba Tơ (11/3/1945) – một dấu mốc quan trọng trong việc thử nghiệm hình thức đấu tranh vũ trang ở Nam Trung Bộ. Những cuộc đấu tranh tiêu biểu của quần chúng nhân dân Nam Trung Bộ trước Cách mạng tháng Tám 1945 đã viết nên những trang sử hào hùng, thể hiện lòng yêu nước, ý chí kiên cường của người dân nơi đây. Những phong trào này làm lung lay nền thống trị của thực dân và phong kiến, góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam.
Kinh nghiệm lịch sử: Những thành tựu và khó khăn trong phong trào cách mạng ở Nam Trung Bộ trước Cách mạng tháng Tám 1945 là minh chứng cho tinh thần đấu tranh kiên cường của Nhân dân. Dù phải đối mặt với nhiều thử thách, phong trào yêu nước, phong trào cách mạng tại khu vực này đã đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, đồng thời để lại những bài học quý giá cho cách mạng Việt Nam.
Một là, bài học về xây dựng và củng cố lực lượng cách mạng: Việc xây dựng, phát triển tổ chức Đảng, Mặt trận Việt Minh, phát triển lực lượng chính trị, vũ trang cho thấy vai trò của công tác tổ chức, tuyên truyền và giác ngộ Nhân dân. Cần tăng cường đoàn kết các tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là công nhân, nông dân và trí thức, để tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh. Thực dân Pháp thi hành chính sách “chia để trị”, ta xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đây là bài học sâu sắc, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.
Hai là, bài học về sự lãnh đạo kiên định, linh hoạt của Đảng Cộng sản Đông Dương: Đảng đã đưa ra các chủ trương phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, biết phát huy sức mạnh quần chúng và tận dụng thời cơ đưa đến thắng lợi của phong trào cách mạng. Trong thời kỳ mới, trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực, Đảng ta tiếp tục kiên định nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi.
Ba là, bài học về kết hợp các hình thức đấu tranh: Phong trào yêu nước, phong trào cách mạng ở Nam Trung Bộ thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hóa và vũ trang, từ đó tạo áp lực toàn diện lên thực dân Pháp, phát-xít Nhật, phong kiến tay sai. Khởi nghĩa Ba Tơ (11/3/1945) là minh chứng về tầm quan trọng của việc chuẩn bị lực lượng vũ trang để tiến hành đấu tranh giành chính quyền khi thời cơ chín muồi. Kinh nghiệm rút ra là cần phải tiến hành tổng thể, kết hợp nhiều biện pháp, phù hợp với từng điều kiện thực tiễn, để giải quyết các nhiệm vụ cách mạng đề ra.
Bốn là, bài học về lấy dân là gốc: Khi phong trào cách mạng bám sát đời sống, lợi ích của Nhân dân, thì sẽ nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ và bền bỉ từ quần chúng, để lại bài học sâu sắc về lấy dân là gốc, xây dựng thế trận lòng dân, khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc. Trong tình hình mới, tiếp tục phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng, động lực mạnh mẽ xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.
Phong trào yêu nước, phong trào cách mạng ở Nam Trung Bộ trước Cách mạng tháng Tám 1945 không chỉ là một trang sử hào hùng của vùng đất này mà còn để lại những bài học quý giá và ý nghĩa sâu sắc cho cách mạng Việt Nam. Phong trào là minh chứng cho tinh thần đấu tranh kiên cường, trí tuệ sáng suốt trong lãnh đạo cách mạng, đồng thời khẳng định rằng sức mạnh của dân tộc nằm ở sự đoàn kết và ý chí vươn lên giành độc lập, tự do của các tầng lớp Nhân dân. Trong thời đại mới, kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết, tinh thần cách mạng quật cường, ý Đảng hòa quyện với lòng dân trong khát vọng xây dựng đất nước, Đảng ta đưa cả nước vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
http://baoquankhu5.vn/khoi-nghia-ba-to-gia-tri-lich-su-va-bai-hoc-kinh-nghiem/



