Khác

Khởi nghĩa Ba Tơ trong Cao trào kháng Nhật cứu nước

Khởi nghĩa Ba Tơ giành thắng lợi vào ngày 11/3/1945 có ý nghĩa quan trọng trong cao trào kháng Nhật cứu nước, dẫn đến sự ra đời của Đội Du kích Ba Tơ, mở ra cao trào kháng Nhật, cứu nước để tiến tới Tổng khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Quảng Ngãi - một địa phương nổi dậy giành chính quyền sớm nhất trong khu vực Nam Trung Bộ và cả nước.

Đồng Tháp10/08/2026xã Tân Đông (Xã Tân Đông)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ba Tơ là một huyện miền núi phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, có địa thế núi non hiểm trở, có mạng lưới đường thông thương với các nơi trong và ngoài tỉnh, là một vùng dân cư không đông, bao gồm cả người Kinh và người dân tộc thiểu số, có truyền thống bất khuất kiên cường chống ngoại xâm, là “mảnh đất thánh” của phong trào cách mạng Khu 5. Cuối năm 1940 đầu năm 1941, thực dân Pháp xây dựng “Căng an trí” tại Ba Tơ, đưa các chiến sĩ hoạt động cách mạng đã mãn hạn tù về đây quản lý; khống chế, triệt tiêu mọi hoạt động cách mạng. Hầu hết các chiến sĩ, đảng viên kiên trung của Quảng Ngãi đều lần lượt bị đưa lên đây đày ải và giam lỏng. Bên cạnh đó, chúng cho rằng với khí hậu khắc nghiệt, bệnh sốt rét cùng với chế độ kìm kẹp hà khắc sẽ làm hao mòn, hủy hoại dần sức khỏe, thể xác, tinh thần của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng trái lại với thủ đoạn của thực dân Pháp, đầu năm 1942, tại “Căng an trí” Ba Tơ hình thành một chi bộ đảng gồm 5 đảng viên do đồng chí Huỳnh Tấu làm Bí thư. Tháng 12 năm 1944, tại một địa điểm trên suối Nước Năng, Tỉnh ủy lâm thời được thành lập, do đồng chí Trương Quang Giao làm Bí thư.

Đêm 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đảo chính, lật đổ thực dân Pháp trên toàn Đông Dương. Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng ban hành Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”[1]. Hội nghị quyết định cho phép những nơi nào có điều kiện thì phát triển chiến tranh du kích, giành chính quyền ở địa phương; chuyển sang hình thức đấu tranh cao và mạnh hơn như: biểu tình thị uy, lập ủy ban nhân dân cách mạng.

Tại Quảng Ngãi, đêm ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật tiến hành đảo chính thực dân Pháp, làm chủ tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Tuy chưa nhận được Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”[2], nhưng với tinh thần cách mạng triệt để, quyết tâm cao, vận dụng sáng tạo đường lối, phương châm của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám (5/1941) là “khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương” để “mở đường cho một cuộc Tổng khởi nghĩa to lớn”; đêm 10 tháng 3 năm 1945, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi tiến hành hội nghị phân tích, đánh giá tình hình, tương quan lực lượng và đi đến kết luận: “Tình thế cách mạng đã chín muồi, cần phải tranh thủ thời cơ, tiến hành khởi nghĩa. Trước hết khẩn trương huy động lực lượng khởi nghĩa ở Ba Tơ, tiếp theo phát động khởi nghĩa ở đồng bằng để phối hợp với phong trào miền núi, đồng thời buộc địch phải phân tán đối phó. Nơi nào chưa đủ điều kiện thì vũ trang tuyên truyền phát động quần chúng, xây dựng lực lượng, xây dựng Đội Du kích, xây dựng chiến khu chống Nhật”[3]. Hội nghị quyết định khởi nghĩa Ba Tơ vào rạng sáng 11 tháng 3 năm 1945. Tuy nhiên, trong đêm 10 tháng 3, chỉ huy đồn Ba Tơ được tin Nhật đảo chính nên ra lệnh “cấm trại”. Quân lính trong đồn được lệnh sẵn sàng chiến đấu. Kế hoạch khởi nghĩa thay đổi. Lực lượng khởi nghĩa kiên quyết đánh chiếm đồn Ba Tơ. Cơ sở binh vận lấy một số súng địch để trang bị thêm cho lực lượng khởi nghĩa, đồng thời vận động binh lính địch đứng về ta, hoặc trung lập họ. Lực lượng quần chúng được vũ trang tuần hành thị uy, gây áp lực với địch. Chiều 11 tháng 3, một cuộc mít tinh lớn diễn ra. Hàng trăm đồng bào vũ trang giáo, mác, rựa… hô vang khẩu hiệu “Đánh đổ phát xít Nhật”, “Việt Nam độc lập”, “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm”, “Ủng hộ Mặt trận Việt Minh”… Cuộc mít tinh nhanh chóng biến thành cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Quân địch chống trả, nhưng trước khí thế cách mạng, buộc phải đầu hàng.

Sáng 12 tháng 3 năm 1945, lực lượng khởi nghĩa tổ chức mít tinh tại sân vận động Ba Tơ. Đồng chí Phạm Kiệt thay mặt Ban Lãnh đạo khởi nghĩa tuyên bố: “Chúng tôi là những người cách mạng ở trong vùng kìm kẹp của kẻ thù. Bấy lâu nay đồng bào ta đã bị Pháp và bọn cai trị Nam triều kìm kẹp đủ điều. Ngày nay, Nhật và Pháp lại cùng đè đầu cưỡi cổ dân ta. Dân ta phải một cổ hai tròng hết làm nô lệ cho Tây lại làm nô lệ cho Nhật. Nỗi khổ chồng chất chịu sao đành… Chúng tôi là những người cách mạng bị địch bắt làm tù tội từ nhiều nhà lao trong nước đã bị chúng đưa về đây cùng với đồng bào, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh đứng lên cướp lấy chính quyền. Từ giờ phút này chúng ta đã chiến thắng. Từ giờ phút này quân đội võ trang của cách mạng, của Đảng, của đồng bào, chiến đấu cho nền tự do của đất nước, bảo vệ đồng bào. Có lệnh trên, các đồng chí phải tiêu diệt địch để tiến lên! Từ giờ phút này tôi thay mặt cho Ban chỉ huy Khởi nghĩa Ba Tơ, tuyên bố: Chính quyền tay sai của địch ở đây đã bị đạp đổ. Cách mạng đã giành chính quyền”[4]. Tại cuộc mít tinh, Đội Du kích Ba Tơ được thành lập, quân số gồm 28 đồng chí, do đồng chí Phạm Kiệt làm Đội trưởng, đồng chí Nguyễn Đôn làm Chính trị viên. Đây là đội vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ do Đảng tổ chức lãnh đạo có nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng ở địa phương, tổ chức huấn luyện, và phát triển lực lượng để chuẩn bị cho các hoạt động lớn hơn.

Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, Tỉnh ủy Quảng Ngãi có nhận định rất sáng suốt, đó là: Trong toàn tỉnh chưa khởi nghĩa đồng loạt, quân Nhật sẽ tiến công chiếm lại Ba Tơ; Đội Du kích Ba Tơ mới thành lập, chưa đủ sức đương đầu với quân Nhật. Từ nhận định trên, Tỉnh ủy quyết định chuyển Đội Du kích tạm thời vào hoạt động bí mật, dựa vào rừng núi hiểm trở để xây dựng chiến khu, phát triển lực lượng, vận động nhân dân đứng lên chống Nhật, tích cực chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa sau này. Chiều 14 tháng 3 năm 1945, Đội Du kích Ba Tơ di chuyển lên Hang Én tuyên thệ “Hy sinh vì Tổ quốc”, sau đó hành quân về vùng Cơ Nhất. Đây là vùng đất có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường bất khuất, đồng bào vui mừng chào đón Du kích Ba Tơ. Chính đồng bào đã che chở, đùm bọc, bảo vệ Đội Du kích trước sự truy lùng của quân Nhật.

Du kích Ba Tơ tập trung tổ chức các đợt huấn luyện quân sự, thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc Hrê về ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa và tinh thần độc lập dân tộc. Nhiều thanh niên trong vùng tự nguyện gia nhập Đội, khiến lực lượng nhanh chóng mở rộng; nhiều vùng lân cận Ba Tơ như Sơn Hà, Minh Long bắt đầu nổi dậy, hưởng ứng phong trào khởi nghĩa.

Ngày 19/3/1945, Đội hành quân tới Nước Sung và quyết định đóng quân tại đây để hoạt động. Đây là vùng đồng bào Thượng trên dãy Trường Sơn. Về quân sự, Đội tập trung huấn luyện kỹ thuật bắn súng, chiến thuật cá nhân, tổ đến tiểu đội; đồng thời vừa rèn luyện, học tập, vừa chú trọng công tác vận động nhân dân, xây dựng cơ sở cách mạng. Đặc biệt, đồng bào đã cùng Đội Du kích làm lễ “thề sống chết có nhau cùng đánh Nhật, đuổi Tây”[5], “nhân dân và du kích thương yêu, đùm bọc nhau, đoàn kết đánh Nhật, chống Tây cứu nước. Ai làm sai sẽ bị cách mạng, nhân dân và “Giàng xử phạt”[6]. Mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa người Kinh và người Thượng, giữa Đội Du kích Ba Tơ với nhân dân được củng cố ngày càng bền chặt. Nhiều thanh niên người Thượng tình nguyện xin tham gia Đội Du kích, góp phần phát triển và tăng sức mạnh chiến đấu cho Đội. Cơ sở cách mạng được gây dựng và phát triển mạnh mẽ.

Tháng 4 năm 1945, Chi bộ Đảng đầu tiên trong Đội Du kích Ba Tơ được thành lập, do đồng chí Nguyễn Chánh làm Bí thư. Đội Du kích Ba Tơ phát triển thành hai đại đội: Đại đội Phan Đình Phùng hoạt động ở phía Bắc tỉnh, Đại đội Hoàng Hoa Thám hoạt động ở phía Nam tỉnh. Từ 28 đội viên ban đầu, lực lượng du kích Ba Tơ phát triển rất nhanh chóng. Đến cuối tháng 7 năm 1945, quân số hai đại đội lên đến gần 1.000 người[7].

Khi cao trào kháng Nhật, cứu nước dâng cao, phong trào cách mạng trong cả nước cũng như ở Quảng Ngãi phát triển mạnh mẽ. Trong lúc Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương (13-15/8/1945) đang diễn ra thì phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh. Đêm 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ra Quân lệnh số 1. Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội được triệu tập họp tại Tân Trào thông qua lệnh Tổng Khởi nghĩa và cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng (Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tuy chưa nhận được chỉ thị của Trung ương, nhưng với tinh thần chủ động, trưa 14/8/1945, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi quyết định phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền. Đội Du kích Ba Tơ nhận lệnh: “Bộ đội Du kích chiến khu Bắc và Nam phải lập tức lấy các đồn thượng du, xong về tập trung gần thành phố để chờ lệnh mới. Nhiệm vụ của Đại đội Phan Đình Phùng: Đánh đồn Gi Lăng, Trà Bồng, Sơn Hà, chiếm đóng các phủ Bình Sơn, Sơn Tịnh, rồi về tập trung gần tỉnh lỵ. Nhiệm vụ của Đại đội Hoàng Hoa Thám: Đánh các đồn Ba Tơ, Minh Long, các huyện Nghĩa Hành, Mộ Đức, rồi về đóng gần tỉnh lỵ”[8].

Với cách đánh mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, linh hoạt của các đơn vị du kích, cùng khí thế nổi dậy, tinh thần sục sôi căm thù giặc của các tầng lớp nhân dân, làm cho quân Nhật vô cùng khiếp đảm. Ngoài số quân địch bị ta tiêu diệt thì số sống sót đã bỏ chạy, lực lượng bảo an ngả theo cách mạng, chính quyền tay sai nhanh chóng tan rã, đầu hàng. Ngày 30/8/1945, nhân dân toàn tỉnh vũ trang bằng các loại vũ khí hiện có tập trung về thị xã tham gia “tổng biểu tình vũ trang toàn tỉnh”, Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Quảng Ngãi chính thức ra mắt nhân dân. Tổng Khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở Quảng Ngãi thắng lợi hoàn toàn. Sau cách mạng, Đội Du kích Ba Tơ tổ chức đại đội thứ ba: Đại đội Lương Ngọc Quyến[9].

Thắng lợi của khởi nghĩa Ba Tơ không chỉ mang ý nghĩa giành chính quyền tại địa phương, mà còn là một sự kiện mở đầu cho phong trào cách mạng ở Nam Trung Bộ, tạo tiền đề cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở tỉnh Quảng Ngãi. Đội Du kích Ba Tơ không chỉ là đội vũ trang đầu tiên ở Nam Trung Bộ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương mà còn biểu tượng cho tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh bất khuất của đồng bào các dân tộc huyện Ba Tơ. Đây là một trong những cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cấp châu sớm nhất trong cả nước, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Khởi nghĩa Ba Tơ đã để lại nhiều bài học quí về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc./.

[1] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940-1945), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.364.

[2] Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ban hành ngày 12 tháng 3 năm 1945.

[3] Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Lịch sử Đội Du kích Ba Tơ (1945-1946), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.38.

[4] Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Lịch sử Đội Du kích Ba Tơ (1945 - 1946), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.48.

[5] Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, Nxb QĐND, H, 2011, tr.69.

[6] Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, Sđd, tr.70.

[7] Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Lịch sử Đội Du kích Ba Tơ (1945 - 1946), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.106.

[8] Du kích Ba Tơ, Nxb QĐND, H, 1960, tr.27.

[9] Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Lịch sử Đội Du kích Ba Tơ (1945 - 1946), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.140.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn