Khởi nghĩa Ba Tơ, xây dựng phát triển đội du kích Ba Tơ góc nhìn nghệ thuật quân sự
Báo Quân khu 5 điện tử trân trọng lược trích nội dung bài viết của Thượng tướng, PGS, TS, Anh hùng LLVTND, VÕ TIẾN TRUNG – Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nguyên Ủy viên Quân ủy Trung ương, Nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng gửi về Hội thảo “Khởi nghĩa Ba Tơ – Giá trị lịch sử và bài học kinh nghiệm”.
Trải qua hai cuộc kháng chiến, quân và dân Ba Tơ (Quảng Ngãi) đã lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày 25/12/2017, địa điểm diễn ra cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ được Chính phủ quyết định công nhận là khu di tích quốc gia đặc biệt. Hiện nay, Ba Tơ trở thành địa điểm du lịch về nguồn hết sức ý nghĩa, là địa chỉ đỏ cho các thế hệ học sinh, sinh viên trong và ngoài tỉnh đến tham quan, nghiên cứu và học tập.
Trước khi diễn ra cuộc khởi nghĩa, Ba Tơ bị thực dân Pháp chiếm đóng. Chúng lập “Căng an trí” Ba Tơ để tiếp tục kiểm soát những người tù chính trị mãn hạn ở các nhà lao Buôn Ma Thuột, Lao Bảo, Di Lăng, Trà Bồng, Quảng Ngãi… Ngoài âm mưu tiếp tục cô lập những chiến sĩ hoạt động phong trào quần chúng, thực dân Pháp còn nham hiểm hơn là để khí hậu xấu, bệnh sốt rét làm cho họ chết dần, chết mòn, khi cần chúng dễ bề thủ tiêu hoặc đàn áp bằng quân sự. Những người hoạt động chính trị, bị Pháp bỏ tù, bị giam lỏng ở “Căng an trí” Ba Tơ, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi đã trở thành những chiến sĩ cách mạng trung kiên, sau này, nhiều người trở thành những cán bộ lãnh đạo, những tướng lĩnh trong Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Sáng ngày 12/3/1945, Ủy ban nhân dân cách mạng và Đội Du kích Ba Tơ chính thức ra mắt. Đội Du kích Ba Tơ gồm 28 đội viên; làm lễ tuyên thệ “Hy sinh vì Tổ quốc” tại bãi Hang Én. Sau đó, Đội nhanh chóng phát triển lực lượng, chuyển về đồng bằng xây dựng khu căn cứ Vĩnh Sơn và Núi Lớn; hình thành 2 Đội vũ trang Phan Đình Phùng và Hoàng Hoa Thám.
Từ thắng lợi của Khởi nghĩa Ba Tơ, Quảng Ngãi cũng là một trong những địa phương khởi nghĩa giành chính quyền sớm nhất trong cả nước, góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ đã đi vào lịch sử với những trang vàng về tinh thần đấu tranh giành độc lập dân tộc. Thắng lợi của cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ là minh chứng cho đường lối đúng đắn của Đảng ta, của sự năng động, sáng tạo, ý chí và nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi. Thể hiện sinh động về truyền thống bất khuất và lòng yêu nước của Nhân dân các dân tộc ở tỉnh Quảng Ngãi. Nghiên cứu về cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ và sự ra đời, lớn mạnh của Đội Du kích Ba Tơ, từ góc độ nghệ thuật quân sự nổi lên một số vấn đề chủ yếu sau đây:
1. Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, trực tiếp là Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của đấu tranh cách mạng.
Đối với đấu tranh vũ trang giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc nói chung, với nghệ thuật quân sự nói riêng, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Cuối năm 1941, “Căng an trí” Ba Tơ có hơn 50 tù chính trị. Trong đó có cả đảng viên, lãnh đạo chủ chốt từ phong trào những năm 1930 – 1939 như các đồng chí Trần Toại, Lê Cả, Huỳnh Mau, Huỳnh Ty, Nguyễn Tiểu, Võ Phấn, Hoàng Tấu, Nguyễn Đôn, Nguyễn Khoách, Phạm Kiệt, Trần Hàm, Trần Quý Hai, Trương Quang Giao, Nguyễn Cừ, Trần Lương… Vượt qua âm mưu nham hiểm của kẻ thù, những chiến sĩ tù chính trị đã bí mật từng bước xây dựng tổ chức, khôi phục phong trào. Đầu năm 1942, những chiến sĩ cách mạng tại “Căng an trí” Ba Tơ đã liên kết với bên ngoài, khôi phục lại tổ chức Đảng, thành lập một chi bộ có 03 đảng viên gồm Nguyễn Đôn, Nguyễn Khoách và Phạm Sanh, lấy tên là “Ủy ban vận động cách mạng” để lãnh đạo phong trào cách mạng. Tháng 4/1942, Chi bộ có 05 đồng chí gồm đồng chí Hoàng Tấu, Nguyễn Đôn, Nguyễn Khoách, Võ Phấn, Nguyễn Cừ do đồng chí Huỳnh Tấu làm Bí thư. Phương hướng hoạt động của Ủy ban này là học tập và tuyên truyền Nghị quyết Trung ương 8 (5/1941), phát triển lực lượng, liên lạc với các cơ sở cũ để tuyên truyền, tập hợp quần chúng và những đồng chí tù mãn hạn.
Tháng 5/1943, đồng chí Phạm Kiệt từ nhà tù Buôn Ma Thuột trở về mang theo bản tóm tắt Nghị quyết Trung ương 8. Sau đó, một hội nghị cán bộ được tổ chức để truyền đạt nội dung Nghị quyết Trung ương 8 và đề ra chương trình, kế hoạch hành động, thành lập Tỉnh ủy lâm thời do đồng chí Huỳnh Tấu làm Bí thư. Đầu năm 1943, Tỉnh ủy đã kết nối liên lạc được với cấp trên và các đồng chí ở Quảng Nam. Đến cuối tháng 6/1943, hội nghị cán bộ mở rộng được Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi triệu tập ở Bằng Chay (thôn Tân Long, xã Ba Động, huyện Ba Tơ) do đồng chí Huỳnh Tấu chủ trì đã thống nhất rải truyền đơn, treo cờ đỏ sao vàng, phổ biến thư kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Đến năm 1944, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi và Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh đã khôi phục được một số cơ sở Đảng để vừa tuyên truyền đường lối cách mạng, vận động tổ chức quần chúng, vừa khẩn trương xây dựng lực lượng, trang bị vũ khí, sẵn sàng hành động khi có thời cơ. Khí thế cách mạng từ Ba Tơ tỏa xuống đồng bằng, tạo khí thế sôi nổi trong toàn tỉnh. Để nhanh chóng mở rộng hoạt động nhằm đưa phong trào địa phương lên kịp phong trào chung của cả nước, Chi bộ và Ủy ban vận động cứu quốc chủ trương đẩy mạnh xây dựng cơ sở; liên lạc với Di Lăng và bàn kế hoạch khi có thời cơ cùng nhau phối hợp; liên lạc với các tỉnh bạn, Xứ ủy và Trung ương. Ủy ban phân công đồng chí Trương Quang Giao chỉ đạo chung; đồng chí Trần Lương tìm bắt liên lạc với tỉnh Bình Định; đồng chí Trần Quý Hai tìm bắt liên lạc với Di Lăng, Quảng Nam, Xứ ủy và Trung ương; đồng chí Phạm Kiệt chịu trách nhiệm tìm đường từ Ba Tơ đi Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum; đồng chí Nguyễn Đôn xây dựng cơ sở Cao Muôn, Giá Vụt và xây dựng chiến khu.
Đêm ngày 9/3/1945, phát-xít Nhật đảo chính thực dân Pháp. Ở Quảng Ngãi, sau mấy giờ chống cự yếu ớt, tất cả quân Pháp đều bị bắt, đầu hàng hoặc trốn chạy. Trước tình hình chuyển biến đột ngột, mặc dù chưa nhận được chỉ thị từ Trung ương, Tỉnh ủy lâm thời đã chủ động họp và quyết định khởi nghĩa đánh chiếm đồn Ba Tơ để lấy súng đạn, lương thực và gây ảnh hưởng, đồng thời phân công cán bộ về hoạt động gấp ở trung châu, đẩy mạnh phong trào công khai giành chính quyền ở hương thôn. Cuộc khởi nghĩa đã diễn ra đúng theo kế hoạch. Chỉ trong vòng 30 phút, quân ta chiếm được đồn Ba Tơ. Sáng hôm sau, Ban Lãnh đạo khởi nghĩa đứng lên tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng, ban bố các quyền tự do dân chủ, bãi bỏ các thứ thuế và nợ nần trong thời kỳ đế quốc phong kiến. Trải qua 80 năm mất nước, đây là lần đầu tiên đồng bào Kinh, dân tộc thiểu số ở Ba Tơ được hưởng những giờ phút tự do, sung sướng. Sau khi chính quyền cách mạng Ba Tơ được thành lập, đội quân cách mạng đã chuyển thành Đội Du kích cứu quốc quân Ba Tơ.
2. Vận dụng đúng đắn sáng tạo quan điểm bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ là một trong những dấu mốc quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, thể hiện sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn đấu tranh giành chính quyền. Thành công của cuộc khởi nghĩa không chỉ góp phần thúc đẩy cao trào kháng Nhật cứu nước mà còn là bài học quý giá về nghệ thuật sử dụng bạo lực cách mạng trong từng điều kiện cụ thể.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Đảng Cộng sản Đông Dương đã vận dụng linh hoạt quan điểm đó trong quá trình lãnh đạo đấu tranh giành độc lập dân tộc, trong đó có cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ.
Khởi nghĩa Ba Tơ diễn ra vào cuối Chiến tranh thế giới lần thứ hai, khi Nhật Bản đã đảo chính Pháp, tạo ra khoảng trống quyền lực ở nhiều nơi. Nhận thấy thời cơ thuận lợi, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi tổ chức khởi nghĩa, dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền. Tỉnh ủy chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang ngay từ trước khi khởi nghĩa nổ ra. Lực lượng khởi nghĩa trang bị vũ khí thô sơ nhưng có tinh thần chiến đấu cao. Đây là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin về việc chuẩn bị lực lượng sẵn sàng cho cuộc đấu tranh vũ trang. Trong bối cảnh Nhật đảo chính Pháp, quân địch hoang mang, đêm 11 tháng 3 năm 1945, lực lượng khởi nghĩa đánh chiếm đồn Ba Tơ. Việc chớp đúng thời cơ là một biểu hiện của sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Mác – Lênin: Sử dụng bạo lực cách mạng khi điều kiện khách quan và chủ quan đã hội đủ.
Ngay sau chiến thắng, chính quyền cách mạng Ba Tơ được thành lập, tổ chức lãnh đạo Nhân dân bảo vệ thành quả cách mạng. Đội Du kích Ba Tơ ra đời, trở thành nòng cốt cho phong trào đấu tranh sau này. Chính quyền cách mạng Ba Tơ nhanh chóng củng cố lực lượng, tuyên truyền cách mạng, tiếp tục mở rộng vùng ảnh hưởng. Đây là bước đi chiến lược, thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của chính quyền cách mạng trong việc duy trì và phát triển thành quả khởi nghĩa.
Khởi nghĩa Ba Tơ là minh chứng sinh động cho sự đúng đắn của quan điểm bạo lực cách mạng trong đấu tranh giành chính quyền. Sự chủ động chuẩn bị lực lượng, chớp thời cơ, kết hợp đấu tranh vũ trang với xây dựng chính quyền cách mạng đã tạo nên thắng lợi nhanh chóng, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng trong toàn tỉnh và khu vực Nam Trung Bộ.
3. Hành động kịp thời nắm đúng thời cơ.
Trong nghệ thuật quân sự, đánh giá đúng tình hình, chớp thời cơ là những nội dung đặc biệt quan trọng, quyết định thành công hay thất bại của tác chiến chiến lược, nghệ thuật chiến dịch cũng như chiến thuật, chiến đấu. Đêm ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính, hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tuy chưa nhận được Chỉ thị này từ Trung ương, nhưng Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi, Chi bộ Đảng ở “Căng an trí” Ba Tơ đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (5/1941): “Với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần, trong từng địa phương, cũng có thể giành thắng lợi và mở đường cho cuộc khởi nghĩa to lớn”. Căn cứ vào sự phân tích của Hội nghị Trung ương lần thứ tám và tình hình thực tiễn tại địa phương, hội nghị nhất trí, đánh giá chính xác những thuận lợi cơ bản là: Bọn đế quốc mâu thuẫn nhau sâu sắc. Nhật hất cẳng Pháp không phải chúng mạnh mà chỉ là bị động; phát-xít Đức sắp thua, cách mạng thế giới nhất định sẽ bùng nổ ở nhiều nước; ở trong nước, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã thành lập, căn cứ địa Việt Bắc đã mở rộng, uy tín Đảng ta to lớn, Mặt trận Việt Minh có cơ sở ở nhiều nơi; Nhân dân ở tỉnh Quảng Ngãi dưới sự lãnh đạo của Đảng đang hưởng ứng các tổ chức cứu nước, càng ngày càng căm thù phát-xít, mong muốn mau chóng đập tan ách nô lệ; phát-xít Nhật tuy hạ được thực dân Pháp nhưng chưa nắm được tay chân của Pháp, bộ máy của chúng ở nông thôn hoang mang, quần chúng sẵn sàng hưởng ứng hành động chống Nhật.
Hội nghị cũng chỉ rõ một số khó khăn như: Nhật còn lực lượng quân sự lớn ở Đông Dương, Hồng quân Liên Xô, Hồng quân công nông Trung Quốc ở xa, do đó sự chi viện trực tiếp của quốc tế sẽ rất khó khăn. Hội nghị cũng nhận thấy khẩu hiệu “đánh Pháp đuổi Nhật” không còn thích hợp với tình hình nữa và đề ra những khẩu hiệu mới là: “Đánh đổ phát-xít Nhật”, “bắt tay với những người Pháp Đờ Gôn chống Nhật”, “tẩy sạch phát-xít Pháp ở Đông Dương thành lập chính quyền cách mạng nhân dân”. Hội nghị nhất trí quyết định: Tiến hành Khởi nghĩa Ba Tơ bằng bạo động khởi nghĩa, cướp đồn Ba Tơ, lấy súng dịch trang bị cho lập đội quân du kích, lập được chính quyền cách mạng ở Ba Tơ, gây thanh thế cho phong trào cứu quốc trong toàn tỉnh, sau đó tiến hành vũ trang tuyên truyền, xây dựng căn cứ chống Nhật để làm cơ sở tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh.
Về nắm và chớp thời cơ tiến hành khởi nghĩa, Chi bộ Đảng “Căng an trí” Ba Tơ đã nhận định chính xác: Quân Pháp và chính quyền tay sai ở Ba Tơ suy yếu, đã biết tin Nhật đảo chính nên rất hoang mang, lo sợ, không dám ngạo mạn ra ngoài như trước và sẽ canh gác gắt gao. Quân Nhật ở Quảng Ngãi chưa triển khai được quân lên Ba Tơ để thiết lập bộ máy cai trị. Trong khi đó, thế và lực của cách mạng áp đảo lực lượng phản cách mạng. Nhân dân các dân tộc Ba Tơ có lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, đã sẵn sàng nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi và Chi bộ Đảng ở “Căng an trí” Ba Tơ rất vững vàng, kiên quyết và sáng tạo. Lựa chọn thời điểm này thực sự là thời cơ tốt nhất để tiến hành khởi nghĩa giành thắng lợi. Ngày 10/3/1945, Tỉnh ủy lâm thời mở cuộc họp bất thường do đồng chí Trương Quang Giao – Bí thư Tỉnh ủy lâm thời chủ trì. Hội nghị nhất trí là “phải chớp thời cơ trong lúc Nhật chưa lên được Ba Tơ, bộ máy tay sai ở đây đã quá hoang mang” và quyết định “phải hành động ngay vào sáng sớm ngày 11/3/1945”. Cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ giành thắng lợi nhanh chóng đã chứng minh quyết định đó là hoàn toàn đúng đắn.
4. Chọn địa bàn, xác định đúng đối tượng, mục tiêu, tập hợp tổ chức lực lượng hợp lý.
Cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ là một trong những sự kiện tiêu biểu trong giai đoạn kháng Nhật cứu nước. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa không chỉ đến từ lòng yêu nước, tinh thần quật khởi của Nhân dân, mà còn từ việc lựa chọn địa bàn và lực lượng tham gia khởi nghĩa một cách đúng đắn, góp phần làm nên thắng lợi nhanh chóng và ít tổn thất.
Một trong những yếu tố quan trọng giúp cuộc khởi nghĩa Ba Tơ giành thắng lợi nhanh chóng là việc lựa chọn địa bàn phù hợp. Ba Tơ là một huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi, có địa hình hiểm trở với nhiều rừng núi, khe suối, hang động – địa thế thuận lợi cho việc tập trung lực lượng, tổ chức chiến đấu và rút lui khi cần thiết. Ba Tơ tuy là huyện miền núi nhưng không quá xa trung tâm tỉnh Quảng Ngãi. Điều này giúp lực lượng khởi nghĩa có thể nhận được sự hỗ trợ từ phong trào đấu tranh của Nhân dân ở các khu vực khác, có thể nhanh chóng phát triển xuống đồng bằng. Địa hình Ba Tơ chủ yếu là núi non, hiểm trở, phù hợp cho chiến thuật du kích. Trước khi khởi nghĩa nổ ra, phong trào đấu tranh của Nhân dân Ba Tơ đã phát triển mạnh mẽ. Tổ chức Đảng đã hoạt động sôi nổi, tuyên truyền tinh thần cách mạng, tạo nền tảng vững chắc cho việc huy động quần chúng nổi dậy.
Lực chọn địa bàn, xác định đúng đối tượng tác chiến và mục tiêu trong tác chiến, chiến đấu có vai trò rất quan trọng trong nghệ thuật quân sự. Cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ thể hiện rất rõ những nội dung cơ bản của vấn đề này. Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi đã xác định chính xác đối tượng đấu tranh của cuộc khởi nghĩa là phát-xít Nhật và thực dân Pháp. Vì vậy, khẩu hiệu đấu tranh “Đánh Pháp đuổi Nhật” không còn phù hợp, khẩu hiệu đấu tranh lúc này được đổi thành “Đánh đuổi phát-xít Nhật, tẩy sạch thực dân Pháp”. Quân Nhật chưa lên đến Ba Tơ, do đó đối tượng đấu tranh trực tiếp của lực lượng khởi nghĩa lúc này là quan quân đồn binh Ba Tơ và Nha Kiểm lý – cơ quan trọng yếu của chính quyền địch ở châu lị Ba Tơ. Việc xác đúng đối tượng đấu tranh là cơ sở để xác định mục tiêu cụ thể của cuộc khởi nghĩa. Tại Hội nghị của Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi xác định: mục tiêu chung của cuộc khởi nghĩa là giành chính quyền về tay Nhân dân, lập chính quyền cách mạng. Mục tiêu cụ thể: Chiếm đồn binh Ba Tơ và Nha Kiểm lý Ba Tơ. Việc xác định đúng đối tượng và mục tiêu đấu tranh đã giúp cho Ban Lãnh đạo và các lực lượng tham gia khởi nghĩa tập trung chuẩn bị, lãnh đạo, chỉ huy, đấu tranh giành thắng lợi trọn vẹn, nhanh chóng.
Bên cạnh việc chọn đúng địa bàn, xác định đúng đối tượng, mục tiêu, cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ cũng thành công nhờ vào việc tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng một cách hợp lý. Những người tham gia khởi nghĩa bao gồm nhiều thành phần, nhưng đều có chung lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu kiên cường và sự gắn bó mật thiết với cách mạng. Lực lượng trực tiếp tham gia cuộc khởi nghĩa chủ yếu là những chiến sĩ cách mạng kiên trung, những thanh niên yêu nước đã được giác ngộ lý tưởng, được huấn luyện về chiến thuật, cách sử dụng vũ khí và phương pháp đấu tranh vũ trang. Đảng viên, cán bộ lãnh đạo phong trào đóng vai trò nòng cốt trong việc tổ chức, chỉ huy và giữ vững tinh thần chiến đấu. Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã giúp lực lượng khởi nghĩa hành động thống nhất, có chiến lược rõ ràng, tạo được chiến thắng to lớn.
Một trong những yếu tố giúp khởi nghĩa Ba Tơ thành công là sự tham gia tích cực của đông đảo quần chúng nhân dân. Nhân dân Ba Tơ đã được tuyên truyền, giác ngộ về cách mạng, sẵn sàng ủng hộ và tham gia cuộc khởi nghĩa bằng nhiều hình thức, như trực tiếp chiến đấu, hỗ trợ lương thực, che giấu, bảo vệ du kích… Sự ủng hộ của Nhân dân giúp lực lượng khởi nghĩa có thêm sức mạnh, đồng thời làm tê liệt tinh thần chiến đấu của quân địch, khiến chúng nhanh chóng thất bại.
Thắng lợi của khởi nghĩa Ba Tơ đã để lại nhiều bài học quan trọng sâu sắc. Chọn địa bàn có địa hình thuận lợi, có cơ sở cách mạng vững chắc sẽ giúp lực lượng khởi nghĩa dễ dàng giành thắng lợi và duy trì thành quả lâu dài. Phải tập hợp lực lượng một cách hợp lý, huy động sức mạnh của toàn dân kết hợp với lực lượng nòng cốt để tạo nên sức mạnh tổng hợp. Sau khi giành chính quyền, cần nhanh chóng tổ chức lực lượng vũ trang để bảo vệ thành quả cách mạng, tránh sự phản công của kẻ thù. Khởi nghĩa Ba Tơ là minh chứng sinh động cho việc vận dụng đúng đắn đường lối cách mạng, trong đó, việc chọn đúng địa bàn và tổ chức lực lượng hợp lý đã giúp cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng, góp phần quan trọng vào phong trào cách mạng trong cả nước.
5. Xây dựng, sử dụng lực lượng vũ trang đúng đắn, kịp thời chỉ đạo phát triển lực lượng vũ trang tạo hiệu ứng to lớn cho cách mạng.
Xây dựng lực lượng là một trong những vấn đề trung tâm của nghệ thuật quân sự. Thế trận vững, chuyển hóa linh hoạt, lực lượng mạnh cả về chính trị tinh thần, số lượng, chất lượng vũ khí trang bị là cơ sở tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành chiến thắng. Trong cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ, vấn đề xây dựng lực lượng được chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Việc thấm nhuần các nghị quyết, chỉ thị của các Hội nghị Trung ương Đảng về chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa giành chính quyền đã làm cho Tỉnh ủy lâm thời, Chi bộ “Căng an trí” Ba Tơ có quyết tâm cao ngay từ đầu để chuẩn bị lực lượng cho khởi nghĩa. Chi bộ ra sức gây dựng cơ sở, tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và Mặt trận Việt Minh, thức tỉnh quần chúng, làm cho quần chúng thấy được con đường đấu tranh giành quyền lợi chân chính và bức thiết của mình, tiến lên giành chính quyền, lật đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập, tự do. Vì vậy, quần chúng nhanh chóng gia nhập hàng ngũ Việt Minh, ủng hộ Việt Minh. Chi bộ cũng gây được cơ sở là binh lính đóng ở đồn Ba Tơ, họ là những người rất tích cực giúp cách mạng cả trong lúc chuẩn bị đến khi khởi nghĩa nổ ra. Chính vì vậy, việc huy động lực lượng, vũ trang cho quần chúng khởi nghĩa được tiến hành rất nhanh chóng và hết sức mạnh mẽ, chỉ trong vòng nửa ngày đã động viên, tập hợp được hàng vạn người biểu tình thị uy chung quanh đồn Ba Tơ, biểu dương một sức mạnh vô địch làm kẻ thù phải khiếp sợ, chính quyền tay sai nhanh chóng bị tan rã hoàn toàn. Binh lính trong đồn khố xanh ở châu lị Ba Tơ mở cửa đồn, giao nộp vũ khí, lương thực.
Ngay sau khi cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ giành thắng lợi, chính quyền cách mạng được thành lập, Ban Lãnh đạo khởi nghĩa đã tuyên bố thành lập Đội Du kích cứu quốc Ba Tơ, gọi tắt là Đội Du kích Ba Tơ, một trong những đội quân vũ trang của Đảng mở đầu cho những hoạt động quân sự to lớn về sau. Chiều ngày 13/3, Ban Chỉ huy Đội Du kích, đồng thời là Ban Lãnh đạo, chỉ đạo cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ họp kiểm điểm, đánh giá kết quả cuộc khởi nghĩa, tình hình sắp tới và quyết định nhanh chóng chuyển chính quyền vào hoạt động bí mật để tránh khủng bố, đàn áp của phát-xít Nhật; bằng bất cứ giá nào cũng phải duy trì hoạt động và chuyển Đội Du kích Ba Tơ lên xây dựng căn cứ ở núi Cao Muôn.
Đã 80 năm trôi qua, ý nghĩa và ảnh hưởng của cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ và chiến công của Đội Du kích Ba Tơ vẫn được tiếp tục phát huy trong lịch sử cách mạng của dân tộc ta. Toàn bộ diễn biến của cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ và Đội Du kích Ba Tơ là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc ở Quảng Ngãi và là một điển hình sinh động về việc vận dụng đường lối đúng đắn của Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ và xây dựng Đội Du kích Ba Tơ đã để lại những bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá, được Đảng ta vận dụng và phát triển cho các giai đoạn cách mạng sau này. Những vấn đề về nghệ thuật quân sự từ cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ như: Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng; vận dụng đúng đắn sáng tạo quan điểm bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin; hành động kịp thời nắm đúng thời cơ; chọn địa bàn, xác định đúng đối tượng, mục tiêu, tập hợp tổ chức lực lượng hợp lý; xây dựng, sử dụng lực lượng vũ trang đúng đắn, kịp thời chỉ đạo phát triển lực lượng vũ trang tạo hiệu ứng to lớn cho cách mạng… được nâng lên thành những nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành chiến tranh cách mạng, lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.
http://baoquankhu5.vn/khoi-nghia-ba-to-xay-dung-phat-trien-doi-du-kich-ba-to-goc-nhin-nghe-thuat-quan-su/



