Khởi nghĩa Hai Bà Trưng và kháng chiến chống Đông Hán (40-43)
Tháng 3 năm 40, Hai Bà Trưng khởi nghĩa tại cửa sông Hát, lật đổ Thái thú Tô Định và giải phóng 65 huyện thành, xưng vương đóng đô ở Mê Linh; đến tháng 5 năm 42, nhà Hán cử Mã Viện sang tái xâm lược, khiến quân ta dù chiến đấu anh dũng nhưng do thế giặc quá mạnh nên Hai Bà Trưng hy sinh vào tháng 5 năm 43, và cuộc kháng chiến hoàn toàn thất bại vào đầu năm 44.
Năm 111 trước Công nguyên, nhà Hán thôn tính Nam Việt và chia đất nước thành các quận huyện để cai trị, trong đó Giao Chỉ là quận lớn nhất. Đến năm 34, nhà Đông Hán cử Tô Định sang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Vốn là kẻ tham lam và tàn bạo, Tô Định không chỉ tăng cường vơ vét, đặt ra trăm thứ thuế nặng nề mà còn thẳng tay dùng vũ lực đàn áp các Lạc tướng và quý tộc bản địa hòng đồng hóa người Việt. Sự áp bức đến cùng cực ấy đã thổi bùng ngọn lửa căm hờn trong lòng nhân dân.
Trước cảnh nước mất nhà tan, vào tháng 3 năm 40, tại cửa sông Hát (Mê Linh), Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị đã lập đàn thề, chính thức dựng cờ khởi nghĩa. Lời thề thiêng giêng độc lập nhanh chóng tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là sự tham gia của rất nhiều nữ tướng tài ba. Từ sông Hát, nghĩa quân mặc giáp phục, cưỡi voi chiến dũng mãnh tiến đánh các trị sở đô hộ từ Mê Linh, Tây Vu rồi bao vây thủ phủ Luy Lâu. Trước khí thế như vũ bão của quân ta, quan quân nhà Hán khiếp sợ tháo chạy, riêng Thái thú Tô Định phải cắt tóc, cạo râu, cải trang mới thoát được về nước. Nhờ sự hưởng ứng ứng của nhân dân khắp các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, chỉ trong vòng không đầy một tháng, Hai Bà Trưng đã quét sạch chính quyền đô hộ, giải phóng 65 huyện thành. Cuộc khởi nghĩa thắng lợi, Trưng Trắc được suy tôn lên làm vua, lấy hiệu là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh và khẩn trương củng cố nền độc lập tự chủ sơ khai.
Tuy nhiên, nền độc lập tự do vừa mới nhen nhóm đã phải đối mặt với thử thách lớn. Mùa hạ năm 42, vua Hán Quang Vũ lo sợ trước làn sóng nổi dậy nên đã cử Phục ba Tướng quân Mã Viện – một lão tướng dày dạn kinh nghiệm – thống lĩnh hai vạn quân tinh nhuệ cùng hàng ngàn chiến thuyền theo hai đường thủy bộ tiến sang xâm lược. Biết tin giặc đến, Trưng Vương chủ động triển khai lực lượng chặn đánh địch quyết liệt ngay từ trận mở màn ở Tây Vu. Dù gây cho quân Hán nhiều tổn thất, nhưng trước sức mạnh quân sự áp đảo của kẻ thù, quân ta phải rút về Lãng Bạc rồi tiếp tục lui về cố thủ tại căn cứ Cấm Khê (vùng núi Ba Vi ngày nay). Tại đây, nghĩa quân đã anh dũng chiến đấu, cầm cự suốt gần 6 tháng trời. Đến tháng 5 năm 43, trước vòng vây siết chặt và thế giặc quá mạnh, Hai Bà Trưng đã hy sinh anh dũng để bảo toàn khí tiết. Một bộ phận nghĩa quân còn lại do tướng Đô Dương và Chu Bá chỉ huy rút vào quận Cửu Chân tiếp tục kháng chiến, nhưng đến đầu năm 44 thì bị Mã Viện đàn áp hoàn toàn.



