Bài viết

-Khởi nghĩa Hương Khê – Tượng đài ý chí sắt đá của Phan Đình Phùng

tác giả: Vũ Khánh Ngọc

22/08/2026xã Vĩnh Thuận (xã Vĩnh Thuận)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, Khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1896) do Đình nguyên Tiến sĩ Phan Đình Phùng lãnh đạo đứng vững như một cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhất, kéo dài nhất, tổ chức chặt chẽ nhất và tiêu biểu nhất cho tinh thần quật cường của sĩ phu yêu nước Việt Nam.

Phan Đình Phùng (1847 - 1895) sinh tại làng Đông Thái, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, vốn là một vị quan Đại thần thanh liêm, chính trực của triều đình nhà Nguyễn. Khi Chiếu Cần Vương ban ra, ông đã từ quan trở về quê nhà, đứng ra chiêu mộ nghĩa quân, thành lập căn cứ kháng chiến tại vùng núi hiểm trở Hương Khê (Hà Tĩnh), lan rộng ra cả 4 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.

Dưới sự chỉ huy của Phan Đình Phùng và người cộng sự tài ba Cao Thắng, nghĩa quân Hương Khê đã đạt tới bước phát triển vượt bậc về nghệ thuật quân sự. Nghĩa quân được chia làm 15 quân thứ, được huấn luyện quân sự bài bản và đặc biệt là tài năng của Cao Thắng khi tự tay tháo ráp, nghiên cứu và chế tạo thành công hàng ngàn khẩu súng đạn theo mẫu súng 1874 của Pháp – một kỳ tích khoa học quân sự dã chiến thời bấy giờ.

Nhằm dập tắt cuộc khởi nghĩa, thực dân Pháp đã dùng những thủ đoạn tàn bạo nhất: đào mả tổ tiên dòng họ Phan Đình Phùng, bắt giam người thân và bắt đồng bào làm rùa giặc. Tên tay sai Nguyễn Thân đã gửi thư dụ dỗ, hứa hẹn trả lại mả tổ và phong chức tước nếu ông chịu bãi binh. Đứng trước sự đe dọa tàn nhẫn ấy, Phan Đình Phùng đã gửi lại câu trả lời đĩnh đạc đi vào lịch sử: "Nay tôi chỉ có một mả tổ là đất nước Việt Nam, nếu ai đào mả tổ tôi lên thì mọi người dân Hà Tĩnh cũng đều bị đào mả!".

Nghĩa quân Hương Khê đã kiên cường chiến đấu, gây cho quân Pháp những tổn thất thảm hại qua nhiều trận phục kích lẫy lừng như trận Đồn Cao, trận Vụ Quang. Tháng 12/1895, trong một đợt bao vây gắt gao của giặc giữa mùa đông rét mướt, Phan Đình Phùng bị thương nặng và qua đời vì bệnh lỵ cấp tính. Sự ra đi của ông đánh dấu mốc khép lại phong trào Cần Vương, nhưng chí khí sắt đá và tư tưởng "thà chết vinh còn hơn sống nhục" của ông mãi là tấm gương ngời sáng cho muôn đời sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn