KHỞI NGHĨA LAM SƠN - HÀO KHÍ NGÀN THU
Tác giả: Vũ Nguyễn Hồng Ngọc

Hằng năm, vào ngày 21 và 22 tháng 8 âm lịch, nhân dân cả nước lại nô nức về dự lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa) để tưởng nhớ Anh hùng dân tộc Lê Lợi cùng các bậc tiền nhân. Sự kiện linh thiêng này nhắc nhớ về mảnh đất khởi nguồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427) lừng lẫy cách đây gần 600 năm. Từ không gian ấy, hào khí trường kỳ kháng chiến vẫn cuộn chảy mãnh liệt, tỏa sáng rực rỡ bài học về tinh thần đại đoàn kết và ý chí quật cường của một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục trước bão giông.
Cuộc khởi nghĩa dấy lên trong bối cảnh đất nước chìm trong đêm đen thống trị tàn bạo của nhà Minh, khi các phong trào đấu tranh chống ngoại xâm trước đó đều bị dẹp tan khốc liệt. Quân giặc tàn sát quân dân ta vô cùng bạo ngược, thiết lập bộ máy cai trị ngột ngạt nhằm đè bẹp tinh thần chống đối của người Việt. Giữa lúc "tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu", mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, tại vùng núi Lam Sơn, Lê Lợi cùng 18 vị tướng văn, tướng võ kiệt xuất đã chính thức phất cờ xưng nghĩa, tự xưng Bình Định Vương, kêu gọi toàn dân đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược để cứu nước.
Những năm tháng đầu hoạt động tại vùng núi Thanh Hóa là giai đoạn gian khổ đỉnh điểm của nghĩa quân khi lực lượng còn mỏng manh, lương thực thiếu thốn gay gắt và nhiều lần bị giặc vây ráp. Trong muôn vàn khó khăn nơi núi rừng, nghĩa quân phải ba lần rút chạy lên núi Chí Linh cố thủ, thường xuyên ăn măng tre củ rừng, thậm chí Lê Lợi từng phải giết cả voi chiến và ngựa chiến để nuôi quân. Tấm gương xả thân lẫy lừng của Lê Lai đóng giả Lê Lợi nhử địch để bảo toàn bộ chỉ huy tối cao đã trở thành biểu tượng bất tử cho sự hy sinh vì đại cuộc. Nhờ sự mưu trí linh hoạt xin hòa hoãn rồi tuyệt giao đúng lúc, nghĩa quân đã bảo toàn lực lượng và củng cố thực lực chờ ngày bùng nổ.
Đến năm 1424, theo mưu lược sâu sắc của Nguyễn Chích, Lê Lợi quyết định chuyển hướng chiến lược tiến quân vào đồng bằng Nghệ An, tạo nên bước ngoặt quyết định cho toàn bộ cuộc kháng chiến. Bằng hàng loạt trận thắng vang dội tại Đa Căng, Trà Long, Độ Gia và việc giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa, quân Lam Sơn đã làm chủ toàn bộ dải đất rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào, dồn quân địch vào thế co cụm. Thừa thắng xông lên năm 1426, đại quân Lam Sơn chia làm ba cánh tiến ra Bắc, đập tan 10 vạn quân viện binh do Vương Thông chỉ huy trong chiến thắng Tốt Động – Chúc Động lừng lẫy, siết chặt vòng vây quanh kinh thành Đông Quan và buộc địch rơi vào thế hoàn toàn thụ động.
Đỉnh cao nghệ thuật quân sự Lam Sơn ghi dấu ở trận quyết chiến chiến lược Chi Lăng – Xương Giang cuối năm 1427. Bằng thế trận phục kích mưu trí và dụ địch đi sâu vào sập bẫy, quân ta chém chết chủ tướng Liễu Thăng tại ải Chi Lăng, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ đạo viện binh gồm chục vạn quân Minh, khiến cánh quân Mộc Thạnh hoang mang tháo chạy về nước. Không hiếu sát, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã mở Hội thề Đông Quan, cấp thuyền, ngựa cho quân xâm lược rút về trong hòa bình, thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc "lấy chí nhân thay cường bạo".
Mùa xuân ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân 1428, Lê Lợi chính thức đăng quang tại điện Kính Thiên, lấy lại tên nước Đại Việt và sáng lập vương triều Hậu Lê thịnh trị. Bài "Bình Ngô đại cáo" do Nguyễn Trãi soạn thảo vang lên như một tuyên ngôn độc lập bất hủ, khắc ghi bài học đại đoàn kết toàn dân, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Hơn 600 năm trôi qua, di sản tư tưởng và hào khí hoa lửa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vẫn sống động trong lòng dân tộc, trở thành bài học lịch sử vô giá soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau.



