Video

khởi nghĩa N’Trang Lơng

Quảng Ngãi14/04/2026Vũ Đinh Khánh (Đoàn TNCS Xã Bờ Y)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

N’Trang Lơng cùng các thủ lĩnh tiếnhành xây dựng căn cứ địa kháng chiến tại thung lũng rừng già Bu Siết (tức BuJeng Kiet hay Bu Jang Chet) giáp ranh với Bu N’Drung ở thượng nguồn suối Buk Xôthuộc núi Nâm Nung. Đây là cơ quan đầu não của nghĩa quân, với lực lượng từ 150– 170 tay súng thoát ly buôn làng. Phần lớn nghĩa quân là người M’nông Biêt vàM’nông Nông do N’Trang Lơng trực tiếp chỉ huy. Họ xây dựng lán trại, kho lương,nhà chứa vũ khí, đào hầm, cắm chông gài bẫy xung quanh căn cứ. Bên cạnh căn cứlà những nương rẫy trồng lúa, bắp, khoai của nghĩa quân. Bên cạnh N’Trang Lơng- vị thủ lĩnh tài ba, trong hàng ngũ nghĩa quân, còn có những thủ lĩnh khác nhưB’Heng Reng, R’Đing, R’Ong Leng, N’Xinh. Họ là những thủ lĩnh yêu nước, lànhững cánh tay đắc lực của N’Trang Lơng.

Trong quá trình chiến đấu chống thựcdân Pháp, hầu hết người M’nông, S’tiêng tích cực tham gia cuộc chiến chống kẻthù chung dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng. Nếu tính trung bình mỗi buôn cókhoảng 10 người tham gia nghĩa quân thì có thể ước tính lực lượng trực tiếpchiến đấu của N’Trang Lơng khoảng gần 5.000 người. N’Trang Lơng đã phiên chếlực lượng này thành hai loại: lực lượng trong buôn và lực lượng ra rừng; ngoàira còn có một lực lượng đặc biệt làm công tác tuyên truyền và thám báo. Về vũkhí, ngoài cung, tên, giáo, mác, rìu, xà gạc, thuẫn, dao găm, nghĩa quân chủlực còn có súng kíp, súng mút cơ tông lấy được của Pháp. Xung quanh căn cứ vàtrên những con đường địch hay di chuyển, nghĩa quân bố trí các loại bẫy, chônglợi hại nhằm tiêu hao sinh lực của chúng. Ngoài nghĩa quân chủ lực, các thủlĩnh khu vực thường điều động nghĩa quân địa phương của các buôn đi chiến đấu.Họ được trang bị vũ khí tự có và được N’Trang Lơng phân phát thêm súng tịch thucủa giặc Pháp.

1. Trận Pu Sra.

Sau quá trình N’TrangLơng vận động, tập hợp lực lượng hình thành nghĩa quân, tích trữ lương thảo vàxây dựng các căn cứ chiến đấu, đến đầu năm 1912, N’Trang Lơng quyết định mởcuộc tấn công đồn Pu Sra - Sở chỉ huy của Pháp.

Trận Pu Sra được các tàiliệu chính thức của Pháp thời bấy giờ miêu tả là một trận đánh tiêu biểu hoàntoàn thắng lợi của nghĩa quân. Số làng liên minh với N’Trang Lơng trong trậnđánh này khoảng vài chục làng, phần lớn là người M’nông Biêt và Bu Nor ở cácvùng nguồn Prêk Tê, Đắk Rpa và Đắk Plai. Diễn biến trận đánh đồn Pu Sra, trongđêm tối, dưới sự chỉ huy trực tiếp của N’Trang Lơng và các thủ lĩnh, khoảng 150đến 170 nghĩa quân cùng tiến sát đồn, diệt tên lính gác rồi ào ạt xung phong,dùng hỏa công thiêu rụi đồn Pu Sra, diệt được 13 tên địch. Trong đó, có tênBalat Mau, quyền trưởng đồn, người Cao Miên, khét tiếng gian ác cùng tên NđjrakOt, đầu làng làng Pu Sra, nổi tiếng là tay chân đắc lực của Henri Maitre cũngbị nghĩa quân trừng trị đích đáng.

Số thủ lĩnh đầu làng vàgià làng tham gia chỉ huy trận đánh bên cạnh N’Trang Lơng rất đông. Chiến thắngPu Sra làm nức lòng dân chúng và làm tên tuổi N’Trang Lơng vang dội khắp TâyNguyên, Ông trở thành con người vĩ đại của dân tộc M’nông bất khuất.

Chiến thắng Pu Sra nhưmột luồng gió mạnh thổi lên khắp cao nguyên M’nông, mở đầu một phong trào vũtrang nổi dậy chống Pháp mạnh mẽ. Đối với Pháp, Pu Sra thất thủ là một thất bạinặng nề. Việc cắm được đồn Pu Sra và việc thành lập được đại lý Pu Sra đượcchúng coi là một thành công lớn của phái bộ khảo sát - hành chính Đông CaoMiên, tức là của Henri Maitre, thì nay toàn bộ “sự nghiệp” đó đã bị nghĩa quânN’Trang Lơng xóa sạch.

2. Cuộc chống càn thắnglợi của nghĩa quân N’Trang Lơng mùa khô 1912-1913

Cuối năm1912, Henri Maitre trở lại cao nguyên M’nông với nhiệm vụ “trả đũa” N’TrangLơng vì nghĩa quân của ông đã xóa sổ đồn Pu Sra. Trong mấy tháng mùa khô năm1913, hắn liên tục hành quân lùng sục khắp vùng Biêt - Bu Nor, thi hành chínhsách đốt sạch nhằm dồn nghĩa quân vào cảnh đói cực và chết chóc trong núi rừng.Chính trong cuộc càn quét trả đũa này, Henri Maitre đã cho N’Trang Lơng, (theolời của hắn) “một bài học nên thân”, triệt phá nốt số ít gia sản còn lại củaông, đẩy ba người con còn lại của ông vào cảnh phiêu bạt rồi mất tích.

Bị Henri Maitre truylùng ráo riết, N’Trang Lơng đã tạm lánh vào vùng nguồn Đắk Huich và tiếp tụchoạt động ở đây. Nguồn Đắk Huich là một vùng có phong trào chống Pháp sôi sục,nhất là từ khi Henri Maitre mở những cuộc hành quân càn quét N’Trang Lơng ởphía Bắc. Người Rơhong ở đây có khoảng 25 hoặc 30 khẩu súng mua của nhữngthương lái từ phía sông Mê Kông đem tới. Vị đầu làng có uy tín nhất trong vùnglà Bu Luk Amprah, ông cùng với N’Trang Lơng bí mật tuyên truyền, vận động và tổchức đồng bào M’nông trong vùng đứng lên chống Pháp. Đầu năm 1913, Bu LukAmprah nhiều lần đem quân đánh, quấy rối đồn Xrây Ktum. Ông cũng vượt qua caonguyên Đồi Cỏ, lên phía Bắc đánh vào đồn Pu La mới thành lập. Henri Maitre đãtỏ ý e sợ và không ngừng trông chừng người thủ lĩnh đầu làng quan trọng này.Thực tế cho thấy, vị thủ lĩnh Bu Luk Amprah đã đóng góp quan trọng vào cácchiến công đánh Pháp của nghĩa quân N’Trang Lơng.

II.NGHĨA QUÂN N’TRANG LƠNG LIÊN TỤC TẤN CÔNG, GIÀNH LẠI QUYỀN LÀM CHỦ TÂY NGUYÊN(1913 – 1915).

Bước sang năm 1913, trêncao nguyên M’nông, phong trào khởi nghĩa do N’Trang Lơng lãnh đạo đang bướcnhững bước tiến mới, chuẩn bị thế và lực liên tiếp mở những trận tấn công tiêudiệt địch.

1. Trậnliên hoàn Bu Nor - Bu Mêra - Bu Bông.

Tình hìnhcao nguyên M’nông trong mùa khô 1913-1914 rất căng thẳng. Trên phần cao nguyênthuộc Cao Miên do bị Henri Maitre tàn phá trong chiến dịch trả đũa mùa khôtrước nên nhiều diện tích rẫy không làm được. Vụ thu hoạch cuối năm 1913 bịgiảm sút nghiêm trọng, kéo theo là một nạn đói trầm trọng trong cả mùa khô1913-1914. Trong khi đó, năm 1913, thuế thân tăng lên đến 7 đồng bạc Đông Dươngmột người. Đời sống của người M’nông Biêt, Bu Nor và R’Hong vì vậy rất khổ cực.Khắp phần cao nguyên này lại nổ ra những trận chiến đấu chống thực dân Pháp,phong trào xây dựng làng chiến đấu chuẩn bị chống giặc diễn ra rầm rộ, đặc biệtở nguồn sông Đắk Huich.

Đối với thực dân Pháp, lúcnày việc lập một lỵ sở cho hạt đại lý đã trở thành một việc cấp bách. Do đó,cuối tháng 2/1914, Galchiê và Henri Maitre đến Bu Mêra, một làng M’nông Nôngtrong lưu vực Đắk R’tíh để xây dựng đồn đại lý. BuMêra là một làng đông dân và khá giả, nằm trên bờ Búk Xô có vị trí chiến lượccơ động nhất trong lưu vực Đắk R’tíh và đối với toàn phần cao nguyên M’nông.Bao quanh có nhiều làng khác như Bu Jâng Chet (cũng gọi là Bu Xiêt), Bu Ya, BuPu (U) Min và Bu Nđrung. Hành động của chúng bị nhân dân trong khu vựcphản đối gay gắt.

Giữa tháng 6/1914, đồn Mêra bước vào thời kỳsắp hoàn thành. Lực lượng vũ trang của Henri Maitre đã tăng lên đến 25 lính khốxanh Trung Kỳ và bảo an Cao Miên; ngoài ra có 4 tên phiên dịch, cai culi và bồibếp, do một số tên đội khố xanh chỉ huy. Để bảo đảm hậu cần cho số quân đồn trúvà bọn nhân viên phục vụ, khoảng giữa tháng 6/1914, Henri Maitre đi Giring lấytiếp tế, hẹn sau 1 tháng sẽ trở về. N’Trang Lơng và hội đồng thủ lĩnh M’nôngNông quyết định nắm lấy thời cơ này để khởi sự.

Quyết định của hội đồngthủ lĩnh dưới sự lãnh đạo và chỉ huy của N’Trang Lơng là: ngày Henri Maitre vừavề đến Mêra, bất ngờ dụ hắn đi Bu Nor ngay, lấy cớ N’Trang Lơng đang uy hiếpmạnh các làng M’nông Nông đang chứa chấp hắn, hắn cần đến hợp lực với các làngđánh N’Trang Lơng. Mục tiêu trận Bu Nor là tiêu diệt Henri Maitre và một bộphận quan trọng lực lượng vũ trang của hắn. Mục tiêu thứ hai phải đánh liền sauđó là đồn Mêra, tiêu diệt nốt số lính còn lại, cướp đoạt vũ khí và lương thựcdự trữ.

Vị đầulàng Bu Jâng Chet là R’Đing vốn được Henri Maitre coi là một “đồng minh”, nênlà người có danh nghĩa nhất đứng ra kêu gọi Henri Maitre liên minh với ngườiM’nông Nông đi đánh N’Trang Lơng, và là người chủ trì lễ “kết minh”.

R’OngLeng và Bơ Rơi Njưng là chỗ Henri Maitre đã qua lại nhiều lần, được hắn coi làchỗ quen thân, được giao nhiệm vụ thay R’Đing đến gặp Henri Maitre kêu cứu, dụhắn đến Bu Nor để làm lễ “kết minh” trước khi xuất quân đi đánh N’Trang Lơng.Với tư cách là người đầu làng Bu Nor, R’Ong Leng sẽ phụ trách tổ chức lễ “kếtminh” và tiếp đãi Henri Maitre. Việc bảo vệ từ xa, đón đánh viện quân địch cóthể từ Ban Mê Thuột hay Krôchiê đến được giao cho người đầu làng làng Bu Bông.Khi trận Bu Nor đã kết thúc, R’Ong Leng có nhiệm vụ thu dọn chiến trường, cònN’Trang Lơng, R’Đing, Xning và Njưng hành quân cấp tốc đánh đồn Mêra vào ngàyhôm sau.

Đúng hẹnvà với một thái độ lạc quan, hoàn toàn yên tâm về người M’nông Nông “tuy cònđộc lập nhưng đã chịu khuất phục” ngày 24/7/1914, Henri Maitre từ Giring lênđường trở về Mêra, đến tối ngày 28 thì hắn về đến đồn. Thời điểm nghĩa quânmong đợi đã đến, khi Henri Maitre vừa xuống ngựa thì R’Ong Leng và Bơ Rơi Njưngđã chờ sẵn ở đồn, khẩn cấp kêu cứu, yêu cầu hắn xuất quân ngay phối hợp với cáclàng M’nông Nông đi đánh N’Trang Lơng.

Cuộc gặpchóng đi tới thỏa thuận lập một liên minh Pháp với người M’nông Nông chốngN’Trang Lơng, Henri Maitre quyết định xuất quân ngay sáng hôm sau. Bu Nor đượcchọn làm điểm hội quân và một lễ “kết minh” sẽ được tổ chức trước khi hai bêncùng ra quân. Bu Nor, như đã biết, là một làng của R’Ong Leng, và đây lại làlàng cửa ngõ đi lên phía Bắc và phía Tây vào các vùng M’nông: Biêt, Bu Nor vàR’Hong.

Sáng29/7, Henri Maitre lên đường đi Bu Nor với một lực lượng 15 lính khố xanh, cảbọn phiên dịch, cai culi và bồi bếp tháp tùng. Ba voi vừa mới từ Giring về,trong đó có voi của Nchuh, đều bị Henri Maitre điều đi luôn để chở đạn, gạo vàhành lý. R’Ong Leng đề nghị Henri Maitre không cần đem nhiều lính và Pactiđăng.Ông hứa sẽ cung cấp Pactiđăng cho hắn. Henri Maitre để lại giữa đồn Mêra chỉmột tên đội khố xanh và 7 lính với những thùng vũ khí mới đem ở Giring về.

HenriMaitre đến Bu Nor ngay chiều ngày 29/7, hắnđược R’Ong Leng tiếp đãi theo đúngphong tục mến khách của người M’nông.Lễ “kết minh” tổ chức ngay hôm sau, vào khoảng 8 giờ ngày 30/7/1914, tổchức tại nhà R’Ong Leng. Lễ chính thức là cúng giàng, làm một lễ hiến sinh lấynước phép rưới cầu may cho vũ khí. Vũ khí của cả đôi bên được chất thành đống,kể cả khẩu súng lục của Henri Maitre. Khi Lễ chính thức bắt đầu, hắn vừa đượcđưa cần rượu cho uống trước thì N’Trang Lơng bước đến bên cạnh, ông hỏi y mộtcâu có tính chất thách thức, và bằng một động tác chính xác, N’Trang Lơng rútdao ngắn đâm Henri Maitre một nhát trúng tim. Những nhát dao ngắn đâm tiếp theolà của các vị thủ lĩnh theo thứ tự quan trọng của mỗi người: Bơ Xing Rđing,R’Ong Leng, Bơ Ning Xning, Bơ Rơi Njưng. Đồng thời reo lên khắp nhà tiếng hô“Lơh! Lơh!” (Giết! Giết!). Nghĩa quân, cả đàn bà, nhảy xô vào bọn lính và taychân của Henri Maitre, diệt kỳ hết, trừ người nài voi Nchuh đi thả voi mới về,ngồi xa đàn lễ, nghĩa quân không thấy nên thoát chết và được giữ lại làm tùbinh.

Trậnđánh đồn Mêra diễn ra ngay sau trận Bu Nor,trưa ngày 31/7/1914. N’Trang Lơng đích thân chỉ huy trận đánh với sự tham giacủa Bơ Xing Rđing và Bơ Ning Xning. Vào lúc đứng bóng, đồn Mêra bị dân hai làngBu Mêra và Bu Jâng Chet tràn vào, không chỉ đàn ông mà cả đàn bà. Nghĩa quânhóa trang thành lính khố xanh với trang phục lột được ở Bu Nor, trà trộn trong dânvệ để lọt vào đồn. Trận đánh đã tiêu diệt số ít lính và chỉ huy còn lại trongđồn diễn ra một cách nhanh chóng. Đây cũng là một trận thắng trọn vẹn nữa củanghĩa quân theo đúng kế hoạch đã định.

TrậnBu Bông, trận thứ ba trong thế đánh liên hoàn, là một trận đánh nhỏ, diễn ranhư một ngẫu nhiên của lịch sử. Đây là một bằng chứng nữa nói lên sự đúng đắncủa phương án tác chiến đã vạch ra, lòng trung thành vô hạn của nghĩa quân BuBông đối với N’Trang Lơng, ý thức chấp hành nghiêm túc quân lệnh của vị thủ lĩnhở Bu Bông. Kết quả trận đánh, nghĩa quân đã tiêu diệt được một toán lính khốxanh của đại lý Buôn Ma Thuột áp giải tù đi Mêra.

Ngoàitrận liên hoàn Bu Nor - Bu Mêra - Bu Bông, nghĩa quân N’Trang Lơng đã lần lượttiêu diệt hai đồn Pu Klia và Pu Thông ở thượng lưu hai sông Prêk Tê và PrêkChlong, giáng một đòn mạnh mẽ vào hệ thống đồn bốt của thực dân Pháp.

2. Trận Bu Tiên.

Bước vào mùa khô 1914-1915, thực dânPháp chủ trương mở một cuộc hành quân càn quét xuyên suốt cao nguyên M’nông từtây xuống đông, một mặt để tìm diệt N’Trang Lơng và nghĩa quân; mặt khác cũngthăm dò khả năng đặt lại sự có mặt của chính quyền Pháp một mức nào đó trên caonguyên.

Nhiệm vụ cuộc hành quân được giaocho tên công sứ Truphô (Trouffot) tỉnh Krochê với một tên quan một khố xanhMacgăng (Margand) làm phụ tá quân sự và tên đồn trưởng kiểm lâm Cuôcsăng(Coursante) làm người dẫn đường, xuất phát từ Xrây Chis đầu tháng 1/1915, nhằmhướng sông Đắk Ghbar (Tioba, gọi theo tiếng Khơme). Nghĩa quân do N’Trang Lơngtrực tiếp chỉ huy bí mật theo dõi, bám sát địch và nhiều lần đã đánh quấy rốichúng dọc đường. Đến chiều 14/1/1915, Truphô dừng chân trú quân trong một khenúi thuộc làng Bu Tiên, ở phía Đông Bắc Xrây Chis, cách Krochiê khoảng 60km vềphía Đông. Sau một đêm không trăng bao vây và phục kích toàn khu vực trú quâncủa địch, sáng sớm ngày 15/1/1915, nghĩa quân từ các phía trườn theo sườn núiđổ xuống đánh ập vào lều giết Truphô và Macgăng, tiêu diệt bọn lính không sótmột tên, thu toàn bộ vũ khí, quân trang quân dụng, thu được bốn voi.

Trận Bu Tiên, là một trận tiêu diệthoàn toàn thắng lợi nữa của N’Trang Lơng và nghĩa quân của ông, góp phần khẳngđịnh ý chí, khả năng chiến đấu tiêu diệt địch, đồng thời, bẻ gãy ý chí xâm lượccủa thực dân Pháp trong một thời gian dài.

III. CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂNTHẮNG LỢI, MỞ RỘNG ĐỊA BÀN KHỞI NGHĨA (1916 - 1927).

Từ khi cao nguyên M’nông sạch bóng giặc Pháp, cuộcsống nơi đây dần trở lại nếp sống cổ truyền, nhưng đã phải trải qua những khó khănchưa từng thấy. Những hậu quả phá hoại kinh tế do Henri Maitre gây ra trongchiến dịch trả đũa đàn áp mùa khô 1912-1913 vẫn chưa khắc phục được thì naygiặc Pháp lại triệt đường tiếp tế muối, gây nên nạn lạt muối nghiêm trọng. Mộtsố thủ lĩnh của phong trào nảy sinh dao động, nộp cho giặc một số súng mà nghĩaquân đã cướp được. Để giữ vững phong trào, dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng(lúc này đã trở về với gia đình ở Bu Rlâm và đứng đầu làng này), nghĩa quân đãtiến hành một đợt thanh trừng bọn phản bội và bọn tay chân cũ của Pháp.

Do ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc khởi nghĩa N’TrangLơng, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp trên vùng cao nguyên Nam ĐôngDương đã lan rộng ra nhiều khu vực, đặc biệt nổi lên là phong trào chống Phápcủa người S’tiêng ở Bà Rá. Đầu năm 1925, vùng Bà Rá vẫn còn nằm ngoài tầm vớicủa thực dân Pháp ở đại lý Phú Riềng. Trước tình hình không chịu khuất phục củanhân dân S’tiêng, thực dân Pháp chuyển sang dùng quân sự đánh chiếm vùngS’tiêng Bà Rá. Cuộc xâm lược này được giao cho tên quan tư Cariê (Carrier) tiếnhành với sự tài trợ của các công ty đồn điền cao su ở Nam Kỳ, với sự phối hợpvà yểm trợ của các tên đại lý đồn trưởng các đồn Bu Đốp và Chlong Phlas cả vềquân sự và chính trị. Trong hai mùa khô 1925-1926 và 1926-1927, Cariê liên tiếpcàn quét vùng S’tiêng Tây Bà Rá, rồi vùng S’tiêng Đông Bà Rá; càn quét đến đâu,y cho làm đường đến đó. Mạng lưới đường y làm thọc sâu dần về phía Bắc vào vùngM’nông – S’tiêng. Do các cuộc càn quét ác liệt của Cariê, phong trào chống Phápcủa đồng bào S’tiêng khu vực Bà Rá tạm thời lắng xuống.

Đến đây, kết thúc giai đoạn (1916-1927) của cuộckháng chiến chống Pháp lấn chiếm cao nguyên trở lại của hai dân tộc M’nông vàS’tiêng. Với truyền thống chống xâm lược từ lâu đời, tấm gương chiến đấu và cácchiến công oanh liệt của N’Trang Lơng đã động viên và cổ vũ đồng bào M’nông vàS’tiêng tiến hành một cuộc chiến đấu anh dũng, giữ vững được phần lớn nhất đấtđai, bảo vệ tự do trên quê hương, góp phần cổ vũ sức chiến đấu chống thực dânPháp của đồng bào các dân tộc nhiều vùng trên Tây Nguyên, Nam Kỳ. Song, trướcmắt đồng bào là một kẻ thù tàn bạo, ngày càng mạnh và càng quyết tâm chinh phụctrở lại cao nguyên.

IV. ĐẤU TRANH QUYẾT LIỆT CHỐNG LẠINHỮNG THỦ ĐOẠN TÀN BẠO, NHAM HIỂM CỦA KẺ THÙ (1928-1936).

Năm 1928, thực dân Pháp lộ rõ âm mưuchính thức xâm chiếm trở lại cao nguyên M’nông. Cho đến lúc này, sức ép củaviệc khai thác đồn điền và xây dựng căn cứ quân sự chiến lược Tây Nguyên đã rấtcấp bách, mặt khác, chúng còn phải đối phó với sự nổi dậy đấu tranh mãnh liệtcủa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Chúng đã nhận ra “kẻ thù đáng gờm nhất”trên các bước đường đánh chiếm miền cao nguyên đất đỏ là N’Trang Lơng, “từ sauvụ giết Henri Maitre (năm 1914), ông đã có một ảnh hưởng cực kỳ to lớn đối vớicác nhóm cư dân còn chưa chịu khuất phục trên miền cao nguyên”, chỉ khi diệtđược ông thì “mới gây được ấn tượng mạnh mẽ, có lợi cho cuộc xâm lấn...”. Vìvậy, đồng thời với tăng cường đàn áp đánh phá miền Bắc Tây Nguyên, chúng tậptrung ra sức tìm diệt N’Trang Lơng. Quá trình thực dân Pháp xâm lược trở lạicao nguyên M’nông là một cuộc đối đầu ngày càng quyết liệt, một mất một còngiữa N’Trang Lơng và chúng.

Cuộc kháng chiến của nghĩa quân N’Trang Lơng từ năm1928 đến năm 1936, có thể chia giai đoạn này làm ba thời kỳ:

1. Thời kỳ từ 1928 đến giữa mùa khô1930-1931.

Thời kỳ này, thực dân Pháp mở đầu lấn chiếm caonguyên M’nông bằng phương pháp hòa bình, âm mưu đó của thực dân Pháp đã bịN’Trang Lơng kết thúc bằng trận đánh tiêu diệt tên đại lý Xnul vào tháng1/1931.

Mở đầu thời kỳ thực dân Pháp âm mưu lấn chiếm “hòabình” cao nguyên M’nông, chúng quyết định làm đoạn đường chiến lược 14 qua phầncao nguyên này thuộc đất Cao Miên để hoàn thành việc nối liền ba xứ và dùng làmđường hành quân bình định phong trào chống lại chúng; mặt khác, chúng quyếtđịnh thành lập tiểu đoàn pháo thủ sơn cước Nam Trung Kỳ, dùng làm công cụ đànáp các phong trào chống lại chúng trên vùng núi và cao nguyên chúng đã kiểm soátđược, chỉ huy sở đóng tại Buôn Ma Thuột, một lực lượng lớn đóng tại Buôn MaThuột trấn giữ cao nguyên M’nông, bộ phận còn lại đóng tại Kon Tum trấn giữvùng Bắc Tây Nguyên.

Tuyến đường 14 trên đất Cao Miên chạy qua một vùngM’nông cho đến năm 1928 vẫn còn là một vùng tự do hay vùng ly khai với Pháp. Đểyểm trợ cho công trường làm đường, thực dân Pháp ở đồn đại lý Xnul (Cao Miên)thường xuyên cho một lực lượng bảo an mạnh tuần tiễu dọc tuyến đường. Đồngthời, sự yểm trợ từ xa cũng được giao cho hai đồn đại lý Chlong Phlas (CaoMiên) và Bu Đốp (Nam Kỳ). Trong tháng 2/1928 và những tháng tiếp theo, hai đồnnày đã liên tục mở những cuộc hành quân phối hợp càn quét từ phía <_st13a_country-region w:st="on"><_st13a_place w:st="on">Nam lên theolưu vực Đắk Glun (đầu nguồn sông Bé) và các chi lưu của con sông này. Trước sứcép nhiều phía của quân Pháp, người R’hong và người M’nông trong khu vực tạmthời nằm yên hoặc lánh sâu vào rừng ly khai với giặc.

Trong tình hình đó, khi con đường 14 vừa lên tới đỉnhdốc đường phân thủy để đi vào cao nguyên Đồi Cỏ thì nghĩa quân N’Trang Lơng tổchức phục kích ngày 26/1/1931, tại La Pam, km 70 (kể từ biên giới Nam kỳ - CaoMiên), nghĩa quân đã đánh và tiêu diệt tên đại lý đồn trưởng Xnul kiêm chỉ huycông trường đường Gati (Gatille). Tin N’Trang Lơng và nghĩa quân diệt được Gatiđã có tác động như một hiệu lệnh làm dấy lên trên toàn cao nguyên một phongtrào chống Pháp sôi sục, bùng lên khắp nơi một phong trào dấp rừng, lập làngchiến đấu, chuẩn bị chống giặc, khí thế bừng bừng như thời kỳ đầu của cuộc khởinghĩa. Các công trình làm đường, các đồn điền của Pháp liền bị dìm vào cảnhthiếu công nhân và hoàn toàn tê liệt. Tình hình trên cao nguyên đã trở nên cựckỳ nghiêm trọng, làm kinh động cả bọn cầm quyền chóp bu ở Đông Dương. Từ đâydiễn ra một cuộc đối đầu thật sự giữa một bên là nghĩa quân N’Trang Lơng vàđồng bào M’nông và S’tiêng, một bên là tên toàn quyền Đông Dương Pie Paxkiê vàtên tướng Biôt (Billote), tổng chỉ huy quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương vớilực lượng quân sự và phương tiện chiến tranh to lớn của chúng, một cuộc đối đầukéo dài hơn 3 năm và đã kết thúc bằng thắng lợi của nghĩa quân N’Trang Lơng vàđồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

2. Thời kỳ từ giữa mùa khô 1931-1932đến giữa mùa khô 1933-1934.

Thời kỳ bọn thực dân Pháp chóp bu ở Đông Dương ra taytrực tiếp cầm quân, ba xứ Nam Kỳ, Trung Kỳ, Cao Miên phối hợp ra quân liên tụccàn đi quét lại cao nguyên M’nông, nhưng cuối cùng đã thất bại; đánh dấu sựthất bại này là hai trận đánh phối hợp của nghĩa quân N’Trang Lơng và nghĩaquân S’tiêng hai ngày đầu tháng 1/1934.

Mở màn của thời kỳ đối đầu này là những cuộc họp từtháng 2 đến tháng 8/1931 của P.Paxkiê và Biôt bàn về chủ trương và kế hoạch đưalực lượng quân đội thuộc địa của chúng vào đánh dẹp cuộc nổi dậy của ngườiM’nông và người S’tiêng dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng. Dưới sự chỉ huy trựctiếp của P.Paxkiê và của Biôt, đến tháng 10/1931, kế hoạch bình định cao nguyênM’nông của Pháp đã vạch xong. Mục tiêu của kế hoạch này là càn quét tiêu diệtN’Trang Lơng và nghĩa quân của ông kết hợp với việc đẩy mạnh làm đoạn đường 14từ Xrây Ktum (Cao Miên) đi Buôn Ma Thuột. Lực lượng để dập tắt phong tràoN’Trang Lơng là một tiểu đoàn quân đội thuộc địa làm chủ lực, một phân độikhông quân làm nhiệm vụ thám thính và oanh kích. Ngoài ra, các chi đội khố xanhBuôn Ma Thuột, bảo an của Bu Đốp và của Chlong Phlas dùng làm lực lượng phốihợp hay hỗ trợ tác chiến. Chúng sẽ tiến hành những cuộc càn quét ngang dọc theonhiều hướng khác nhau trên toàn bộ khu vực trong đường tròn khép kín từ Buôn MaThuột qua Kinda, Girinh, Võ Đắt (Trung Kỳ), Bà Rá, Bù Đốp (Nam Kỳ), Xrây Ktum,Chlong Phlas (Cao Miên).

Giữa mùa khô 1931-1932,vào tháng 12/1931, Biôt ra lệnh xuất quân. Ngay từ đầu, kế hoạch xuất quân đãphải điều chỉnh. Thay vì 6 cánh quân đã dự kiến cùng một lúc tung ra càn ngangquét dọc trên toàn địa bàn cao nguyên M’nông, Biôt chỉ tổ chức được ba mũi tiếncông: hai mũi theo hướng chính, tức theo trục con đường 14 tương lai, trong đómột mũi xuất phát từ Xrây Ktum (Cao Miên) và một mũi xuất phát từ Buôn Ma Thuột(Trung Kỳ), điểm tụ quân của hai mũi chính là ngã ba biên giới. Còn mũi thứ baxuất phát từ Bu Đốp (Nam Kỳ) là mũi theo hướng phụ, mục tiêu của mũi này làvùng trung lưu sông Đồng Nai - lưu vực Đắk R’tíh.

Cánh quân Buôn MaThuột do quan ba Maya (Maillard) chỉ huy, lực lượng gồm một đại đội của tiểuđoàn pháo thủ sơn cước Nam Trung Kỳ và một chi đội khố xanh của Buôn Ma Thuột.Cuộc hành quân của Maya từ bên kia bờ sông Sêrêpốk bị đồng bào Preh liên tụcđánh quấy rối. Xuất phát từ Ea Tul đầu tháng 1/1932, sau hơn một tháng lộirừng, cho đến ngày 12/2/1932, quân của Maya mới tới được Bu Jâng Đrâm, một làngM’nông trên hữu ngạn Đắk Đăm, cách Ea Tul chỉ khoảng 70 km. Tại Bu Jâng Đrâm,Maya đã cắm đồn đặt ngay đại lý Đắk Đăm, hòng khống chế vùng này và mở rộngkiểm soát vào vùng M’nông Nông tại Đắk R’tíh.

Cánh quân Xrây Ktumcũng xuất phát trong tháng 1/1932, nhưng muộn hơn cánh quân Buôn Ma Thuột, lựclượng gồm một đại đội quân thuộc địa, điều từ Phnôm Pênh tới và nhiều lính bảoan địa phương, tất cả do quan ba Ghiô (Guillot) chỉ huy. Cánh quân này đượcgiao nhiệm vụ càn quét trên một đoạn độc đạo của con đường 14. Trên đường đi,chúng bị nghĩa quân liên tục đánh phá, phải mất gần 9 tháng mới tiến được 75cây số, 40 lính chết, 200 bị trọng thương.

Còn cánh quân Bu Đốpgồm một trung đội lính bảo an Nam Kỳ do Giecbe (Gerbar) đồn trưởng kiêm đại lýchỉ huy cũng xuất phát vào giữa tháng 1/1932 và hành quân theo thượng lưu sôngBé để đi vào vùng Nâm Nung - Đắk R’tíh- trung lưu sông Đồng Nai. Cánh quân nàyđã bị đánh bật trở lại khi chúng vừa đặt chân lên vùng đất của người M’nôngNông.

Cuộc phản kích đầutiên của nghĩa quân N’Trang Lơng nổ ra giữa mùa khô 1932-1933 với lực lượng hơn200 người (tương ứng với hơn 20 làng liên minh) đánh vào đồn Gati, cứ điểm vệtinh lớn của đồn đại lý Lơ Rôlăng, cắm tại cây số 65 đoạn đường 14 trên đất CaoMiên. Trận đánh xảy ra ngày 6/1/1933, bằng tên nỏ và súng trường, một cánh quândưới sự chỉ huy trực tiếp của N’Trang Lơng đánh vào mặt đồn Gati. Đồng thời,một cánh nghi binh khác được bố trí để đánh diệt viện ở xa về phía Tây Nam, tại km 50.Cuộc tập kết của nghĩa quân bị lộ nên tên quan ba Bruynê (Brunet) chỉ huy tậpđoàn cứ điểm Lơ Rôlăng đã kịp thời điều quân tăng cường các đồn bốt dọc đường14. Cuộc tấn công của nghĩa quân không vì vậy mà kém phần quyết liệt. Lực lượngPháp ở Gati gồm có 60 lính khố đỏ, dưới sự chỉ huy của đồn trưởng Caxtel (Castel),bắn liên thanh ra rất dữ dội. Nghĩa quân rút vào các công sự đã đào sẵn, nổilửa đốt cỏ tranh quanh đồn đánh hỏa công. Trong khi chờ viện binh, quân Pháprút xuống hầm cố thủ, phản kích bằng lựu đạn phóng bằng súng. Quân cứu viện củaPháp do tên đội Lơcôngtơ (Lecote) chỉ huy, gồm 30 tên rút từ đồn cây số 55. Khichúng vừa tới cây số 58 thì bị nghĩa quân đón đánh, bắn hỏng chiếc ôtô chởchúng, buộc chúng phải hành quân lội bộ qua rừng. Đến cây số 62, Lơcôngtơ trúngchông bị loại ra ngoài vòng chiến đấu, phải khiêng đến đồn cây số 63 để cấpcứu. Từ đó Pháp phải dời đồn Gati lên đóng ở một điểm cao và xây dựng kiên cốhơn, có hầm hào và hàng rào dây thép gai vây quanh.

Sau trận đánh đó,những người M’nông Biêt và R’Hong đi theo N’Trang Lơng rất đông. Về phía thựcdân Pháp, chúng phản ứng quyết liệt, cho máy bay ném bom khủng bố hai làng BuThan và Bu Ju, gần Gati mà chúng nghi là nơi để nghĩa quân dùng làm chỗ tập kếttrước trận đánh. Hai tháng sau, chúng mở một chiến dịch lớn nhằm càn quét nghĩaquân, chặn đứng phong trào chạy theo liên minh với N’Trang Lơng. Địa bàn cànquét của chiến dịch lớn này là toàn bộ vùng R’Hong và vùng M’nông Nông. Lựclượng Pháp đưa vào các mũi hành quân càn quét gồm có 60 lính khố đỏ đồn Bu JângĐrâm do Huya chỉ huy, 60 lính bảo an đồn Bu Đốp do Giecbe chỉ huy và 60 línhkhố đỏ đồn Lơ Rôlăng do Bruynê chỉ huy, hình thành 3 mũi giáp công mở vào ngày15/3 nhằm vùng trung tâm của khu vực đang có phong trào đấu tranh mạnh mẽ. Cũngtrong chiến dịch này, Pháp dựng thêm hai đồn mới: đồn Bu Koh ở vùng M’nông –S’tiêng đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của đồn đại lý Bu Đốp, và đồn Met vẫnquen gọi là Bốt Met (Poste Maitre) gần ngã ba biên giới, tại giao điểm của bốnnhóm M’nông: Biêt, Bu Nor, R’Hong và Nông, dùng làm lỵ sở mới cho đại lý ĐắkĐăm, thay đồn Bu Jâng Đrâm, để trực tiếp khống chế phong trào của bốn nhóm này.

Đầu tháng 1/1934, haitrận đánh nổ ra liền nhau như hưởng ứng lẫn nhau: trận ngày 1/1 đánh vào đồn LơRôlăng do chính N’Trang Lơng chỉ huy, và trận ngày 2/1 đánh vào đồn Bu Koh củanghĩa quân M’nông – S’tiêng vùng khuỷu sông Đồng Nai. Tham gia trận đánh đồn LơRôlăng có tới 400 hoặc 500 nghĩa quân của khoảng 50 làng thuộc nhóm M’nông:Biêt, R’Hong, Bu Nor và Nông liên minh với N’Trang Lơng trong mùa mưa. Một bộphận nghĩa quân khi kéo đến địa điểm tập kết ở Bu Krak đã bị địch phát hiện. Vìvậy địch ở Lơ Rôlăng, một mặt đã kịp thời tăng viện bố phòng kiên cố, mặt khácmở một cuộc hành quân đánh đón đường. Một bộ phận của nghĩa quân đã lọt đượcvào đồn và xung phong mãnh liệt, nhưng rốt cuộc bị hỏa lực của địch quét mạnhnên nửa chừng phải bỏ dở cuộc tấn công.

3. Thời kỳ thứ ba cũng là thời kỳ cuối cùng từ giữa mùa khô1934-1935 đến giữa mùa khô 1935-1936.

Thựcdân Pháp tăng cường lực lượng, thống nhất chỉ huy ba xứ, liên tục vây quét khuvực đầu não của phong trào kháng chiến; cũng là thời kỳ N’Trang Lơng và các bạnchiến đấu của ông liên tục tiến công địch “quyết tâm bằng mọi giá đánh đuổiPháp một lần nữa ra khỏi cao nguyên”.

Bướcvào mùa khô 1934-1935, khắp cao nguyên, nhân dân M’nông và S’tiêng lại nổi lênrào làng, dấp rừng chống Pháp. Cuộc đối đầu ngày càng quyết liệt giữa nghĩaquân N’Trang Lơng và giặc Pháp.

Nổidậy sớm nhất, ngay từ đầu mùa khô, là các làng M’nông Biêt phía Bắc đồn LơRôlăng. Đây là những làng đã tham gia đánh đồn này hồi đầu năm “mưu giết tênđại lý Chlong Phlas”. Xa hơn về phía Bắc, cuộc nổi dậy của người M’nông Biêtcàng sôi sục. Giặc Pháp ở Chlong Phlas đã buộc phải mở một cuộc hành quân cànquét về hướng đó cho đến bờ sông Sêrêpốk. Ngày 4/3/1935, một đồn Pháp - đồnĐêhay (Deshsyes), đã được dựng lên ở vùng M’nông Biêt xa xôi, hẻo lánh cách LơRôlăng 82 cây số. Nhưng đồn này vừa dựng lên hôm trước thì ngày hôm sau đã nổra trận đánh lớn thứ hai của N’Trang Lơng vào đầu Lơ Rôlăng, trận đánh đã kinhđộng một lần nữa bọn cầm quyền chóp bu buộc chúng sau đó phải thay tướng, tăngquân.

Một phong trào chống Pháp lại bùng lên trên gần 80 câysố từ tây đến đông và 50 cây số từ nam tới bắc. Giặc Pháp truy lùng nghĩa quânráo riết buộc nghĩa quân phải không ngừng di chuyển, nhưng khi giáp mặt vớiquân thù, nghĩa quân vẫn chiến đấu rất anh dũng. Chính viên quan tư Nyô, kẻđang đối mặt với N’Trang Lơng cũng buộc phải nhìn nhận rằng: “Thủ lĩnh N’Trang Lơng hồi này đãchừng 50 tuổi nhưng vẫn rất khỏe mạnh... và hàng chục vị thủ lĩnh kiên cường,dũng cảm khác, tất cả đều quyết tâm bằng mọi giá đánh đuổi ta (Pháp) ra khỏicao nguyên Trung Tâm (cao nguyên M’nông) một lần nữa”.

4.N’Trang Lơng anh dũng hy sinh - phong trào khởi nghĩa đi vào thoái trào và kếtthúc.

Sautrận N’Trang Lơng đánh đồn Gati ngày 29/4/1935, thực dân Pháp thấy rõ bị uyhiếp mạnh, nên từ đầu tháng 5/1935 trở đi, chúng tung quân ra sức truy lùngnghĩa quân, bất chấp các cơn mưa đầu mùa xối xả, núi cao, rừng sâu. Trong hoàncảnh đó, N’Trang Lơng tạm lánh về quê cũ, ẩn náu trong một vùng rừng gần BuPar. Sự có mặt của ông ở đây đã bị tên phản bội Bơ Mpông Phê, chỉ điểm của Phápphát hiện. Bơ Mpông Phê vốn là đầu làng làng Bu Rtung và là một thủ lĩnh nghĩaquân thời kỳ đầu cuộc khởi nghĩa. Thời kỳ sau năm 1915, thời kỳ khó khăn trêncao nguyên, hắn đã giao động chạy theo giặc, nộp cho giặc một số súng mà nghĩaquân đã cướp được, nên bị nghĩa quân trừng phạt nghiêm khắc. Vào lúc N’TrangLơng bị hắn phát hiện thì một cánh quân của Nyô do tên quan hai Lơ Bel (LeBelle) chỉ huy với sự hiệp lực của tên Bêxret (Besrest), quan một bảo an ởChlong Phlas, đang ráo riết săn lùng ông, cách nơi ông ẩn náu khoảng một ngàyđường, Bơ Mpông Phê đã tìm Pháp, đưa chúng đến bao vây ông. Tại đây, diễn ratrận chiến đấu cuối cùng, bất ngờ và không cân sức, buộc ông phải chấp nhận.N’Trang Lơng mất sáng ngày 23/5/1935tại Bu Par, ít ngày sau khi ông bị Pháp bắn trọngthương trong trận chiến đấu cuối cùng tại làng này. Ông ngã xuống trong tay vẫncòn cầm khẩu súng theo ông chiến đấu đã hơn hai mươi năm; và lúc này vẫn cònnóng bỏng những viên đạn cuối cùng mà người anh hùng chống Pháp bắn vào đầugiặc.

N’TrangLơng hy sinh, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp trên cao nguyên M’nônglắng xuống, đi vào thoái trào nhưng ảnh hưởng của phong trào đã không ngừngvươn cao, vươn xa. Chỉ sau đó không lâu, phong trào đấu tranh của đồng bào cácdân tộc Đắk Nông nói riêng và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, Nam Bộ nói chunglại bùng lên và lan rộng hơn trước, trong đó phong trào “Nước Xu” do Săm Brămlãnh đạo là một điển hình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn