khởi nghĩa Nam Kỳ
Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra ngày 23 tháng 11 năm 1940 là cuộc nổi dậy rộng lớn nhất trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược sau khởi nghĩa Trương Định năm 1859. Nội thành Sài Gòn không nổ súng nhưng Chợ Lớn, Gia Định và các tỉnh khác của Nam Kỳ đã nổi dậy như triều dâng thác đổ.
Cuộc khởi nghĩa không thành công, thực dân Pháp khủng bố khởi nghĩa Nam Kỳ dữ dội hơn nhiều lần khởi nghĩa Yên Bái, Xô viết Nghệ - Tĩnh. Tổn thất của cách mạng cực kỳ lớn, chưa có sách nào ghi lại đầy đủ những chương bi kịch về bản tráng ca hào hùng năm ấy. Sau thất bại khởi nghĩa Nam Kỳ, những người lãnh đạo và đảng viên cộng sản còn lại đã rút kinh nghiệm xương máu từ chính cuộc khởi nghĩa. Thời cơ cách mạng chưa chín muồi là vấn đề đầu tiên được các tài liệu sống tham gia khởi nghĩa đặt ra khi nói về thất bại của cuộc khởi nghĩa.
Chính Xứ ủy Nam Kỳ cũng nhận thấy rằng các điều kiện chưa đầy đủ để phát động khởi nghĩa vũ trang. Ngày 8 tháng 10 năm 1940, Thường vụ Xứ ủy đã gửi chỉ thị cho các tỉnh ủy hãy khoan phát động khởi nghĩa vì chưa đủ điều kiện, nếu khởi nghĩa non sẽ thất bại như hồi 1930-1931[4]. Tại Hội nghị Xứ ủy tháng 9 năm 1940 đã nhận định về chủ quan thời cơ chưa chín muồi nhưng nếu không khởi nghĩa thì có hại, quần chúng sẽ tan rã mất tinh thần, nếu ta lùi bước quần chúng sẽ xa rời Đảng, Đảng sẽ mất ảnh hưởng và mất tín nhiệm trong quần chúng. Do vậy, Thường vụ Xứ ủy vẫn quyết định hạ lệnh khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ mặc dù diễn ra trên địa bàn rộng lớn nhưng vẫn là cuộc khởi nghĩa địa phương, ở Nam Kỳ và chỉ một phần Nam Kỳ thôi. Khởi nghĩa Nam Kỳ do một mình Xứ ủy Nam Kỳ quyết định, Trung ương có biết, không chuẩn y, yêu cầu hoãn nhưng chỉ thị về đến không kịp. Lẽ ra nếu biết chỉ đạo của Trung ương tựa như chỉ đạo trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn thì cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại có thể giảm, việc bảo toàn lực lượng có thể thực hiện.



