KHÔNG CÓ NHÂN DÂN THÌ KHÔNG CÓ BÁC
KHÔNG CÓ NHÂN DÂN THÌ KHÔNG CÓ BÁC
Thật ra, trong chuyến đi thăm Việt Nam vào cuối năm 1958 ấy, những ngày đầu tôi không có ý nghĩ, hoặc đúng ra là không mơ ước được nặn tượng Bác Hồ, bởi vì tôi thấy mình chỉ là một nghệ sĩ điêu khắc bình thường, mà Bác Hồ thì bận trăm công nghìn việc, làm sao có thể được gặp Bác, nói chi đến chuyện được ở bên Người từ ngày này sang ngày khác để nặn tượng Người!
Nhưng rồi, chính trên những chặng đường đã đi qua ở Việt Nam lúc ở Hà Nội cũng như ở Tây Bắc, ở Hòn Gai cũng như Hòa Bình, Bắc Ninh hay Nam Định - được tiếp xúc với các đồng chí và nhân dân Việt Nam, thấy rõ lòng kính yêu vô hạn của họ đối với Bác Hồ, tôi càng thôi thúc là làm sao nặn được một bức tượng về Bác Hồ.
Mong ước của tôi lại hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của các đồng chí ở Đại sứ quán Cộng hòa dân chủ Đức tại Hà Nội. Tôi giãi bày tất cả những gì đang nung nấu trong lòng tôi và chỉ yêu cầu Đại sứ quán đề đạt gấp nguyện vọng đó lên Bác Hồ.
Chừng một tuần sau, tôi sung sướng được Bác cho đến gặp. Tôi nhớ hôm ấy có cả đồng chí nhà thơ Tố Hữu và Đại sứ Phuytxnơ. Bác niềm nở bắt tay tôi và ân cần hỏi thăm sức khỏe, gia đình và công tác. Người hỏi cảm tưởng của tôi sau những chuyến đi địa phương và về nền mỹ thuật Việt Nam. Tôi có thể thưa với Bác biết bao nhiêu điều, song trong giờ phút ấy, đứng bên Người, tôi cảm thấy thiêng liêng và xúc động quá! Tôi chỉ xin thưa với Bác rằng tôi có nhiều cảm nghĩ rất tốt đẹp về những ngày ở Việt Nam và hiện có nguyện vọng cao nhất, duy nhất là được làm phiền Bác một thời gian để có thể đem về cho nhân dân Cộng hòa dân chủ Đức một kỷ niệm lâu bền.
Bác nhìn Đại sứ Phuytxnơ, rồi lại nhìn tôi với nụ cười đôn hậu và bảo:
- Tôi được biết nguyện vọng của đồng chí rồi. Thế này nhé: Tôi đồng ý đáp lại yêu cầu của đồng chí. Mỗi buổi sáng, đồng chí đến chỗ tôi làm việc độ một giờ rưỡi. Có thể cho một số anh chị em Việt Nam cùng đến làm.
Tôi xúc động cảm ơn Bác và chào Người ra về với một cảm giác lâng lâng, khó tả...
Hai ngày sau, tôi và các đồng chí Việt Nam cùng lên chỗ Bác. Thấy chúng tôi vào, Bác tươi cười nói với các bạn đồng nghiệp Việt Nam của tôi:
- Các chú phải cố gắng nhé. Thi đua với đồng chí Đrắcke mà làm, không thì xấu hổ đấy!
Thật ra, mấy anh em chúng tôi đều phải cố gắng cả.
Thoạt đầu, công việc tiến hành không được dễ dàng lắm. Tôi thấy bố trí Bác ngồi cạnh một cái bàn ở góc phòng là không thể được. Bởi vì chúng tôi sẽ khó lòng mà đi quanh Bác để nghiên cứu từng đường nét trong quá trình phác thảo, tạo hình.
Lẽ ra phải có hai cách: Hoặc mời Bác đứng, hoặc mời Bác ngồi trên một chiếc ghế quay, thì chúng tôi mới có điều kiện nhìn Bác dưới một thứ ánh sáng cố định. Thế nhưng, làm như vậy, một phần sẽ gây phiền phức cho Bác nhiều quá, phần khác cũng phải chiếu cố lẫn nhau, không lẽ ai cũng muốn quay cả!
Cuối cùng, tôi nêu lên yêu cầu là mời Bác ngồi ở giữa phòng, cho kê cao bàn làm việc và ghế ngồi của Bác. Các đồng chí Việt Nam tỏ vẻ e ngại. Tôi nói:
- Các đồng chí cứ thưa với Bác rằng đó là đề nghị của tôi!
Quả nhiên, đề nghị đó được chấp nhận. Bàn ghế của Bác được kê cao bằng một chiếc phản loại gỗ tốt. Mấy anh em nghệ sĩ Việt Nam đều phấn khởi về sự thay đổi này.
Tôi là người đã nặn tượng nhiều danh nhân như Các Mác, Gớt, Bêthôven, Humbôn... nhưng chưa bao giờ được gặp các vị ấy ở ngoài đời! Đây là lần đầu tiên tôi nặn tượng một vị lãnh tụ nổi tiếng mà chính mắt mình được trông thấy. Do ưu thế của nghề nghiệp, tôi có điều kiện ngắm nhìn rất kỹ gương mặt Bác. Do đó, đến hôm nay sau ngót 20 năm trời, tôi vẫn nhớ rõ đôi mắt sáng ngời, chòm râu bạc trắng như cước, vầng trán cao và cả những đường nhăn, những chấm mồi trên da mặt Bác. Tất cả đều toát ra vẻ hiền từ, độ lượng, bao dung của một vị cha già rất thân yêu, bình dị và hấp dẫn. Chỉ tiếc rằng tôi không thể thưa chuyện nhiều với Người, một phần do phải tập trung làm việc, một phần vì tôi không biết nói tiếng Pháp. Ở cái tuổi ngót 70, Bác ngồi yên được lâu như vậy là rất kiên trì. Tôi không hề thấy Bác tỏ ra mệt mỏi, trái lại, còn đọc báo, xem tài liệu hoặc thỉnh thoảng viết gì đó vào một cuốn sổ tay...
Thời gian chúng tôi làm việc bên Bác tổng cộng khoảng 12 tiếng đồng hồ. Đó là 12 tiếng đồng hồ vô cùng quý báu trong đời hoạt động nghệ thuật của tôi. Hôm cuối cùng, trước khi chia tay, Bác ngồi nán lại với chúng tôi chừng 20 phút. Bác xem qua những gì chúng tôi làm được. Tôi xúc động một lần nữa bày tỏ lòng cảm ơn đối với Người, đã vì nguyện vọng của một nhà điêu khắc bình thường mà dành cho một số thời gian quý báu. Bác cười:
- Chúng tôi phải cảm ơn đồng chí mới đúng chứ! Quan trọng là tôi có giúp ích được gì cho công việc của đồng chí không thôi!
Về công việc đã tiến hành trong Phủ Chủ tịch, dĩ nhiên chưa kết thúc. Tôi chỉ có thể tạo dáng bằng đất nung, sau đó nhờ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội cho đúc khuôn bằng thạch cao, rồi đóng hòm thật cẩn thận để mang về nước. Ở Béclin, tôi đã cho đổ đồng được 5 bức tượng cỡ vừa. Hiện nay, một bức được đặt tại Trường đào tạo sĩ quan biên phòng Hồ Chí Minh ở ngoại ô Béclin, một bức tại Viện Hàn lâm Nghệ thuật, một bức tại Viện bảo tàng Trung ương, một bức đặt tại công viên Tờrếptô và bức nữa thì đã gửi sang Việt Nam...
Tôi không dám nói rằng có thể hài lòng về tác phẩm của mình, nhưng ít nhất với bức tượng đó, tôi cũng giữ lại được một kỷ niệm đẹp đẽ giữa bao nhiêu tình cảm chân thành nhất của mình đối với đất nước Việt Nam, đất nước của Bác Hồ.



