Anh hùng Lực lượng vũ trang

KHỔNG DƯƠNG: “NGÒI BÚT XOAY CHẾ ĐỘ” VÀ CÕI THỨ BA BẤT TỬ

Cắm rễ vào cuộc sống, văn chương sẽ như đoá hoa toả hương thơm ngút ngàn. Xa rời cuộc sống, từng con chữ viết lên sẽ thấm màu u ám của tâm trí, tẻ nhạt và sáo rỗng. Góc phòng không chỉ trói chân người nghệ sĩ mà còn bóp nát trang hoa, để lại những con chữ héo tàn. Thấu hiểu chân lý ấy, trong dòng chảy cuồn cuộn của văn học nước nhà, có những bậc tài hoa đã chọn dấn thân vào bão tố. Tuy cuộc đời họ ngắn ngủi như một tia chớp rạch ngang bầu trời, nhưng ánh sáng ấy vẫn đủ sức soi rọi cả một thời kỳ

TP. Hồ Chí Minh06/01/2026Nguyễn Ngọc Tường Vy (Đoàn xã Tân Nhựt)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cắm rễ vào cuộc sống, văn chương sẽ như đoá hoa toả hương thơm ngút ngàn. Xa rời cuộc sống, từng con chữ viết lên sẽ thấm màu u ám của tâm trí, tẻ nhạt và sáo rỗng. Góc phòng không chỉ trói chân người nghệ sĩ mà còn bóp nát trang hoa, để lại những con chữ héo tàn. Thấu hiểu chân lý ấy, trong dòng chảy cuồn cuộn của văn học nước nhà, có những bậc tài hoa đã chọn dấn thân vào bão tố. Tuy cuộc đời họ ngắn ngủi như một tia chớp rạch ngang bầu trời, nhưng ánh sáng ấy vẫn đủ sức soi rọi cả một thời kỳ lịch sử hào hùng. Nhà thơ Khổng Dương chính là một nốt nhạc trầm hùng, quyết liệt trong bản giao hưởng “thời hoa lửa” – một người nghệ sĩ đã tự nguyện gác lại mộng sầu lãng tử để cầm bút bằng tâm thế của một chiến sĩ kiên trung.

Khổng Dương (1921-1947) tên thật là Trương Văn Hai, sinh tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long). Từ nhỏ, ông đã phải nếm trải những đắng cay của số phận khi mồ côi cha, rồi lạc lõng dưới bóng chiều mẹ bước thêm bước nữa. Tuổi thơ ông là những tháng ngày nương tựa bên người cha nuôi Tám Dâu, khởi đầu hành trình tầm sư học đạo từ ngôi trường làng đơn sơ đến những giảng đường hoa lệ tại Cần Thơ, Sài Gòn, Huế và rồi dừng chân giữa lòng Hà Nội ngàn năm văn hiến. Ở tuổi mười bốn, khi hồn thơ còn vương nét thanh tân, Khổng Dương đã khiến văn đàn sững sờ với tập “Ly tao”, mở đầu cho một sự nghiệp cầm bút rực rỡ trên khắp các trang báo từ “Tiểu thuyết thứ bảy” đến “Trung Bắc chủ nhật”.

Từ linh hồn “lạc loài” đến hờn căm “quốc hận”

Bước vào làng thơ với tâm thế của một lãng tử đa tình, thuở ấy, hồn thơ Khổng Dương mang nặng nỗi sầu ly biệt và sự cô độc của một kẻ lữ hành chưa tìm thấy lý tưởng:

“Đây một linh hồn không bến đỗ,

Lạc loài theo gió bụi muôn phương.”

Thế nhưng, khi gót chân thực dân chà đạp lên quê hương, những vần thơ “tương tư lòng rối tơ mềm” đã nhường chỗ cho nỗi đau xót xa trước cảnh nước mất nhà tan. Nhìn thấy những kẻ cam tâm làm nô lệ, ông đớn đau viết:

“Ngàn vạn hồn tồi bán khách xa,

Hỡi ơi nhìn lại nước non nhà...

Hồn trai ai nỡ cầm, buông giá,

Đem bán mày râu, lấy sống thừa.”

Chính sự thẹn thùng của một đấng nam nhi trước vận nước đã trỗi dậy thành ngọn lửa, thôi thúc ông biến văn chương thành vũ khí.

“Dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ”

Mạch nội dung xuyên suốt cuộc đời Khổng Dương là sự chuyển mình quyết liệt. Ông xác lập một lý tưởng sống mãnh liệt: văn chương không phải để ngâm hoa vịnh nguyệt, mà để “xoay chuyển địa cầu”.

Ý chí “Dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ” được ông cụ thể hóa qua hành động lập nhà xuất bản Đồng Nai, lấy hình ảnh thần Atlas đội quả địa cầu làm biểu tượng. Với ông, mỗi chữ viết ra phải có sức nặng thức tỉnh:

“Bốn vách đã cười cho số phận,

Râu mày càng thẹn với quê hương.

Hờn nung lửa giận căng tim nhỏ...”

Khi ngọn lửa ấy bùng lên, ông sẵn sàng từ bỏ phồn hoa Hà Nội, Huế, Cần Thơ để về vùng Hậu Giang kháng chiến, sống kiếp “hàn sĩ thời chiến” nhưng khí chất chưa bao giờ vơi cạn.

“Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền”

Giữa khói lửa Nam Bộ năm 1946, Khổng Dương hiểu rằng thi sĩ không thể đứng ngoài lầm than. Ông dùng thơ để gieo “Quốc hận ca”, biến trang giấy thành chiến trường nơi “Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền”.

Năm 1947, trên dòng rạch Xẻo Tre, bóng phi cơ thực dân gieo rắc tử thần xuống mặt nước phẳng lặng, người thi sĩ ấy đã vĩnh viễn nằm lại giữa vòng tay đất mẹ Long Xuyên khi chỉ mới 26 xuân xanh. Ông ra đi khi gót chân còn vương vệt máu đỏ, để lại nắm xương tàn bên bờ rạch hoang vắng, nơi mà dấu tích nấm mồ cổ giờ đây đã bị xóa nhòa bởi lớp bụi thời gian và cỏ dại. Họa chăng, sự ra đi ấy đã được vận mệnh báo trước qua những vần thơ đầy tiên liệu: “Một thuở ra đi là vĩnh biệt / Ngàn năm mộ cổ gió trăng qua”.

Cõi thứ ba – Nơi không có sự lãng quên

Nhìn vào cuộc đời ngắn ngủi nhưng rực rỡ của Khổng Dương, ta chợt nhớ đến lời của nhà văn Lưu Quang Vũ:

“Ngoài thế giới của người đang sống và cõi im lặng của người đã chết, còn có một cõi thứ ba: cõi của những người sống trong trí nhớ của người khác, những người không bị lãng quên!”

Khổng Dương đã ngã xuống, nhưng linh hồn ông vẫn mãi là một vì sao tỏa sáng giữa cõi nhớ nhân gian, minh chứng cho một kiếp hoa lửa tận hiến đến hơi thở cuối cùng. Dù thời gian có thể san bằng những nấm mồ vô chủ bên sông, nhưng tên tuổi ông vẫn sống mãi trong lòng những người yêu nước, trong những bài giảng của các thầy giáo vùng sâu như một biểu tượng của lòng kiên trung. Ông không mất đi, ông chỉ đang sống tiếp trong trí nhớ của dân tộc, trong mạch ngầm văn chương yêu nước Nam Bộ, tỏa sáng như một minh chứng rằng: Khi người nghệ sĩ cầm bút bằng cả trái tim và máu nóng, tác phẩm của họ sẽ trở thành bất tử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
KHỔNG DƯƠNG: “NGÒI BÚT XOAY CHẾ ĐỘ” VÀ CÕI THỨ BA BẤT TỬ | Câu chuyện thời hoa lửa