Không tin mình còn sống để trở về
Chúng tôi tìm về nhà ông Nguyễn Trung Hoàn, sinh năm 1948, ở thị trấn Bến Sung (Như Thanh), để được nghe ông kể về những trận đánh hào hùng năm xưa của quân giải phóng, được xem những kỷ vật thời chiến tranh, mà người lính già ấy đã cất công sưu tầm suốt 2 thập kỷ qua. Vừa đặt chân vào đến cửa, chúng tôi như lạc vào một thời ký ức hào hùng của dân tộc. Từ những huân, huy chương, giấy khen cho đến chiếc bi đông đa dụng do Liên Xô sản xuất mà bộ đội vẫn dùng hàng ngày trong lúc hành quân chiến đấu, chiếc cặp lồng đựng cơm của một nữ thanh niên xung phong. Rồi cả mảnh bom bi của quân đội Mỹ.... đều được ông Hoàn xếp ngay ngắn, trang trọng. Bởi, đối với ông Hoàn, mỗi kỷ vật đều có giá trị thiêng liêng trường tồn cùng thời gian mà ở đó ẩn chứa cả hình hài của đất nước, của con người Việt Nam qua các thời kỳ.
Ông Hoàn chia sẻ: “Có một câu thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mà tôi rất thích: Họ đã sống và chết/ giản dị và bình yên/ không ai nhớ mặt đặt tên/ nhưng họ đã làm ra đất nước. Vì thế, dù là khẩu súng của một vị tướng hay cái ba lô rách nát của một chiến sĩ bình thường, cũng đều đáng quý như nhau. Vì bất kể họ có vai trò quan trọng như thế nào trong cuộc chiến ấy, thì họ vẫn là những người anh hùng thực sự đã hồi sinh đất nước".
Năm 1974, khi chiến tranh đang khốc liệt, chàng trai Nguyễn Trung Hoàn khi đó vừa tròn 24 tuổi. Theo tiếng gọi Tổ quốc, ông Hoàn nộp đơn xin nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện cấp tốc, ông Hoàn được biên chế vào Bộ tư lệnh tiền phương, thuộc quân khu 5, chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên. Đây là mặt trận vô cùng ác liệt, khó khăn, thiếu thốn đủ thứ, từ lương thực cho đến vũ khí, thuốc men... Tại mặt trận này, kẻ địch ngày đêm điên cuồng bắn phá làm nhiều đồng đội của ông bị thương và hi sinh, người may mắn thì được chôn cất, còn nhiều đồng chí đến giờ vẫn không tìm thấy. Bản thân ông tuy may mắn lành lặn trở về nhưng cũng không ít lần phải đối diện với lằn ranh sinh - tử. Năm 1975, khi đất nước ca khúc khải hoàn, ông tiếp tục công tác tại đơn vị. Năm 1981, ông xuất ngũ trở về công tác tại lâm trường Như Xuân, xã Hải Vân, huyện Như Thanh. Từ năm 1995, ông về hưu.
Thời trai trẻ lăn lộn giữa mưa bom bão đạn, thứ ông mang về nhà lúc hòa bình lập lại chính là tình đồng đội. Ông rưng rưng nước mắt: “Tôi không bao giờ quên được những hình ảnh về đồng đội của mình, họ hi sinh trước mắt tôi, trong vòng tay tôi…”.
Ở bên kia dốc của cuộc đời, ông bỗng hiểu mình cần phải làm gì. Ban đầu, ông chỉ nghĩ đơn giản là tìm lại các kỷ vật thời chiến để làm kỷ niệm và chỉ cho con cháu biết cha ông đánh giặc như thế nào. Có những người bạn chiến đấu biết tâm nguyện của ông nên có kỷ vật đã tự mang đến nhờ ông cất giữ. Tuy nhiên, số kỷ vật đó không nhiều. Phần lớn “gia tài” kỷ vật trong bảo tàng tư gia hiện nay đều do ông bỏ tiền túi và công sức tìm mua lại.
Ngày đang còn công tác ở lâm trường Như Xuân, cứ rảnh rỗi ông lại làm một chuyến lên miền núi phía Bắc hoặc vào chiến trường cũ, với tâm thế được hay chăng chớ. Chỉ đến khi nghỉ hưu, có thời gian, ông đi nhiều hơn, vào vùng địch hậu Quảng Trị để lùng mua những món đồ mà người thân bảo là “trời ơi đất hỡi”. Sau mỗi chuyến đi, ông lại mang về khi thì vài chiếc huy hiệu, lúc lại con dao nhíp hay cái mũ cối…Bộ sưu tập theo năm tháng dần định hình, đến nay, ông đang sở hữu hơn 1.000 kỉ vật chiến tranh.
Khi được hỏi động lực nào giúp ông quyết tâm đi tìm kiếm kỷ vật chiến tranh như vậy? Không chút do dự, ông khẳng định: "Tôi là người lính từng trực tiếp cầm súng chiến đấu, tận mắt chứng kiến nhiều đồng đội đã phải hy sinh nên trong lòng vô cùng đau xót. Bởi vậy, bản thân mình phải có trách nhiệm với đồng đội đã ngã xuống thông qua việc làm cụ thể là sưu tầm, tìm kiếm và lưu giữ những kỷ vật thời chiến tranh. Tôi muốn những kỷ vật mà tôi có sẽ là những câu chuyện lịch sử sống động để thanh niên bây giờ luôn ghi nhớ và biết ơn về một thế hệ đã ngã xuống vì đất nước. Đó sẽ là lời nhắc nhở các cháu sống tốt đẹp và có ý nghĩa hơn trong tương lai. Cũng để chúng hiểu rằng, chiến tranh không chỉ là bom đạn khốc liệt, không chỉ là đau thương, chết chóc hay hoang tàn, đổ nát. Đó cũng là bản anh hùng ca xúc động về tình đồng chí, đồng đội, về sự đoàn kết, gắn bó đến phi thường của cả dân tộc. Chiến tranh là cách mà người Việt Nam buộc phải chọn để gìn giữ đất nước”.
Ông bảo, cả cuộc đời mình, cái quý giá nhất chính là những gì mà hôm nay bản thân còn lưu giữ. Để rồi, mong muốn sau này, sẽ không còn ai vô tâm với những gì mà thế hệ đi trước dựng xây, cống hiến cho cuộc sống thanh bình hôm nay. “Không tin mình còn sống mà trở về, giờ đây tôi chỉ biết tiếp tục sống và cống hiến sức lực của mình góp phần gìn giữ những hiện vật lịch sử cho thế hệ mai sau”



