Khác

Khu ủy Sài Gòn – Gia Định

Những năm 1959 - 1967 là thời điểm phong trào cách mạng thành phố gặp rất nhiều khó khăn, tình hình cơ sở bị động, nhiều đảng viên, cán bộ bị bắt. Ngay cả cơ quan lãnh đạo thành phố (lúc này là Đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn) phần thì bị bắt gần hết thậm chí có một số đồng chí hi sinh, phần thì chưa có cơ sở để đứng chân. Trong thời gian đó, đ/c Chín Dũng (bí danh của đ/c Võ Văn Kiệt) đã nhận thấy tính thiết yếu của mối liên kết mật thiết giữa phong trào nội thành Sài Gòn và phong trào nông thôn t

Vĩnh Long29/11/2025Phước Mỹ Trung (Xã đoàn Thạnh Hải)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những năm 1959 - 1967 là thời điểm phong trào cách mạng thành phố gặp rất nhiều khó khăn, tình hình cơ sở bị động, nhiều đảng viên, cán bộ bị bắt. Ngay cả cơ quan lãnh đạo thành phố (lúc này là Đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn) phần thì bị bắt gần hết thậm chí có một số đồng chí hi sinh, phần thì chưa có cơ sở để đứng chân. Trong thời gian đó, đ/c Chín Dũng (bí danh của đ/c Võ Văn Kiệt) đã nhận thấy tính thiết yếu của mối liên kết mật thiết giữa phong trào nội thành Sài Gòn và phong trào nông thôn tỉnh Gia Định. Vì vậy, cuối năm 1959, Xứ ủy Nam bộ chấp thuận việc kiến nghị thành lập Khu Sài Gòn – Gia Định (SG-GĐ) với bí số Y4, sau đó đổi thành T4.

Đầu tiên căn cứ đóng tại ấp Lộc Thuận, xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Năm 1960, ban lãnh đạo của Khu ủy SG – GĐ bao gồm: đ/c Võ Văn Kiệt – Bí thư; và hai đ/c phó bí thư là đ/c Trần Bạch Đằng và Mai Chí Thọ.

Trong thời gian đ/c Võ Văn Kiệt giữ vai trò là bí thư Khu Ủy SG – GĐ, ông đã từng gắn kết với lực lượng A6. Lực lượng A6 là lực lượng mà TƯ Cục tập hợp từ 1 trung đội an ninh võ trang tăng cường và lực lượng bảo vệ khu ủy tổ chức thành. Nhiệm vụ của đại đội A6 là bảo vệ đ/c Chín Dũng và Bộ chỉ huy tiền phương miền Nam.

Đây là sơ đồ trận đánh của lực lượng A6 với thủy quân lục chiến Mỹ tại xã Qui Đức từ mùng 4- mùng 8 têt Mậu Thân 1968 bảo vệ đ/c Võ Văn Kiệt. A6 là một lực lượng khá tinh nhuệ và có tinh thần quả cảm. Vì thế, mà trong trận đánh này, đại đội A6 đã tiêu diệt trên 200 tên lính thủy quân lục chiến, bắn cháy nhiều xe và máy bay địch, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Bộ chỉ huy, Bộ tư lệnh tiền phương.

Chiến dịch tấn công Tết Mậu Thân bắt đầu từ ngày 30 tháng 01 năm 1968. Ngày hôm sau, quân Giải Phóng đánh chiếm 1 phần Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn và đồng loạt tấn công Dinh độc lập, Bộ tổng tham mưu, Đài phát thanh Sài Gòn với ý định là dập tiếng nói của địch, đồng thời dùng phương tiện của địch vừa chiếm được phát đi tiếng nói của cách mạng động viên tinh thần, sĩ khí của quân dân thành phố và toàn miền Nam tiến lên giành thắng lợi quyết định.

Trở lại với căn cứ Khu ủy SG-GĐ, kể từ khi được thành lập, căn cứ Khu ủy Sài Gòn Gia Định đã đóng quân trên nhiều tỉnh thành Nam bộ từ Tây Ninh cho đến mũi đất Cà Mau. Sau những lần địch càn quét đánh chiếm thì đó là những lần các cán bộ lãnh đạo, chiến sĩ Y4 lại phải nhọc nhằn vào việc hành quân di dời căn cứ. Có thể nói trên khắp chiến trường Nam bộ chúng ta có thể tìm thấy những hình ảnh, kỉ niệm về những lần hành quân, xây dựng căn cứ đứng chân. Đây thật sự là một cuộc hành quân “không ngơi nghỉ” trải dài về cả không gian lẫn thời gian. Bằng một ý chí mạnh mẽ, quyết lòng vì đơn vị vì Tổ Quốc, anh em chiến sĩ Y4 đã làm nên những kì tích độc đáo.

Thành lập khu ủy Sài Gòn – Gia Định về đóng chân tại xã Tân Phú Tây và xã Thành An

Sau cuộc tổng tiến công nổi dậy tết Mậu Thân 1968 của ta, Mỹ - Ngụy phản kích quyết liệt, tăng cường đánh phá dữ dội, hành quân càn quét những nơi mà chúng nghi ngờ có lực lượng cách mạng đang trú đóng. Tháng 6/ 1969 Thường vụ Khu ủy và Tỉnh ủy tỉnh Bến Tre thống nhất đưa căn cứ Khu ủy Sài Gòn – Gia Định về đóng chân tại xã Tân Phú Tây và xã Thành An. Đây là vùng đất giải phóng với truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường lại thêm địa hình địa thế hiểm trở nhiều kênh rạch, hạn chế đường tấn công của địch nên xã Tân Phú Tây và xã Thành An là nơi bảo toàn lực lượng tốt để đứng chân hoạt động.

Theo chỉ đạo của Tỉnh ủy và Huyện ủy Mỏ Cày lúc này do đ/c Nguyễn Văn Tư ( tức đ/c Sĩ Phong) làm Bí thư Huyện ủy, Đảng bộ 2 xã Tân Phú Tây và Thành An (do đ/c Nguyễn Thái Lin- Bí thư xã Tân Phú Tây và đ/c Phạm Công Chánh – Bí thư xã Thành An) có nhiệm vụ phối hợp với các xã xung quanh, và lực lượng ban xây dựng thế trận phòng thủ, chiến đấu an toàn, tạo mọi điều kiện để cơ quan lãnh đạo và lực lượng Y4 hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều thành viên cán bộ của 2 xã đã tiếp tục lên đường phục vụ kháng chiến, gia nhập lực lượng vũ trang bảo vệ Y4.

Bên cạnh việc xây dựng các chiến hào thông suốt các ấp để tạo thuận lợi cho việc di chuyển khi đánh địch, thì hầm nổi cũng được chú trọng xây dựng kiên cố để đảm bảo cho việc bảo vệ lực lượng và các đ/c lãnh đạo Y4 đứng chân.

Trong thời gian căn cứ Y4 đứng chân tại 2 xã Tân Phú Tây và Thành An, đ/c Chín Khuê là người đã đổ và xây các cống kín để đặt vào các hầm bí mật giúp lực lượng và các đ/c lãnh đạo Y4 tránh được sự tấn công càn quét của địch.

Sau khi hòa bình lập lại, ông Chín Khuê cùng với ông Tám Thôi là những người đã giúp đỡ Bảo tàng Bến Tre trong việc tìm và xác định lại vị trí hầm nổi và hầm bí mật.

Sau chiến dịch tết Mậu Thân 1968, tình hình ở Khu ủy Sài Gòn – Gia Định có nhiều biến động. Để ứng phó với những biến động này, từ năm 1968 đến 1972, Thành Ủy đã triệu tập 5 cuộc Hội nghị (gọi là Hội nghị Bình Giã) và đề ra những chủ trương kịp thời ứng biến với tình hình chiến sự. Trong 5 cuộc Hội nghị, Hội nghị Bình Giã 3 đã diễn ra tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Trong Hội nghị này, Thành ủy đã đề ra chủ trương đấu tranh chính trị phải kết hợp với mặt trận liên hiệp mở rộng; sự lãnh đạo của Đảng trong phong trào quần chúng cần phải được củng cố; mở rộng chiến tranh du kích đều khắp trong thành phố và đảm bảo phá kìm, diệt sinh lực địch giành chính quyền làm chủ cơ sở.

Xây dựng căn cứ là một việc rất khó, để bảo vệ căn cứ lại là một việc càng khó hơn. Trong khoảng thời gian đ/c Võ Văn Kiệt giữ cương vị lãnh đạo Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, đội cận vệ A6 luôn làm tốt vai trò là những chiến sĩ bảo vệ trung thành, quả cảm. Đội cận vệ A6 cùng với du kích hai xã Tân Phú Tây và Thành An với đội hình bố trí chặt chẽ, tư thế sẵn sàng chiến đấu đối đầu với địch, làm tổn hao sinh lực địch ở nhiều trận.

Tháng 11/ 1969, trung đoàn của bọn Ngụy cùng bọn quân biệt động phiên hiệu Cọp Đen đổ quân lên đánh vào các xã Tân Phú Tây và Thành An với ý đồ thăm dò lực lượng Y4 và tìm hiểu về vùng căn cứ này. Phía ta đã bám sát địch, đánh trả quyết liệt, diệt 45 tên, thu 30 súng, bắn rơi 4 trực thăng đẩy lùi địch, bảo vệ an toàn cho căn cứ.

Trong các trận đánh nhằm bảo vệ căn cứ, trận đánh ngày 13/08/1970 là một trận chiến khốc liệt giữa ta và địch…Những ngày đầu tháng 8, địch ra sức ném bom rải thảm các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long. Tại Bến Tre, chúng tăng cường thêm binh lực của Sư đoàn 7 và “hung thần” B52.

Đêm rạng sáng ngày 13/08/1970, máy bay B52 gầm rú trút nhiều trận bom ầm ầm đổ xuống như thác, các chiến sĩ trong căn cứ đã “ ngâm mình” chịu đựng những trận mưa pháo từ bọn địch gần nửa giờ, rồi tiếp tục gồng lấy một đợt hỏa tiễn, rốc két từ trực thăng chiến đấu của địch. Nhưng mọi người đều bám chắc công sự và không một chiến sĩ nào bị thương. Sau đó, bọn địch cho trực thăng đổ bộ và cho một đại đội tập kích bên ngoài đường đất đối diện căn cứ và chúng còn tăng cường thêm một đại đội thám sát ở ấp 5, xã Thành An ở đường chiến tuyến để bọc hậu. Như quý khách có thể quan sát thấy trên sơ đồ, quân ta đang ở trong tình thế bị bao vây ở ba phía. Tuy nhiên, ta sớm dự đoán được cách tấn công của bọn chúng, nên khi chúng tiến vào, ta đã tung hỏa lực đánh phủ đầu, bắn quét luôn bọn địch ở phía xa. Bọn đi đầu chết, tốp sau hoảng hốt tháo chạy. Lực lượng ta gài mìn và lựu đạn nhanh chóng rút vào tuyến phòng ngự có công sự.

Khi ta rút vào công sự, bọn địch cũng bắt đầu tiến dần vào căn cứ. Nhưng chiến sĩ ta đã mưu trí cài đặt sẵn bẫy, biến địa hình nơi đây trở thành chỗ hiểm của bọn địch. Chúng bò lên líp vườn thì gặp mìn và lựu đạn ta gài, chúng lội dưới mương thì gặp chông tre ta cắm…Bao nhiêu cạm bẫy đang đợi chúng, làm địch không tài nào tiến nhanh được.

Đến 15 giờ chiều, đ/c Năm Xuân cho người sang đón đ/c Sáu Dân về chỗ đ/c Năm Xuân. Ngay lúc đó, có 3 chiếc trực thăng địch bay sát ngọn dừa ngay chỗ đ/c Sáu Dân. Đ/c nhanh chóng di chuyển vào bên trong, không may đạp phải chông tre. Sau đó, đ/c được đưa vào hầm của đ/c Năm Xuân để tránh máy bay. Lúc này, bác sĩ Mười Lù và bác sĩ Mười Nhâm đang bị kẹt lại ở trận địa không qua để chữa trị cho đ/c Sáu Dân được nên đ/c Ba Dân (đ/c Ba Dân lúc này mới học y sĩ về) là người đã mổ vết thương cho đ/c Sáu Dân.

Còn về phần bọn địch, nhờ vào sự hỗ trợ của trực thăng chiến đấu, bọn chúng đã chiếm được khu vực hầm ngủ, hầm chống pháo. Dù đã phần nào chiếm được căn cứ ta, nhưng chúng vẫn không ngừng cho trực thăng bắn phá xung quanh mãi đến 17 giờ chiều.

Đến 19 giờ tối, tiểu đội của đ/c Sáu Thông và những cán bộ khác đến đón đ/c Sáu Dân về căn cứ của đ/c Bảy Dư ở ấp 3 xã Thành An. Còn tiểu đội của đ/c Ba Mương ở lại tiếp tục chiến đấu cố gắng bảo vệ cơ sở hầm bí mật của ta.

Đến ngày 13/10/1970, đ/c Võ Văn Kiệt họp với ban lãnh đạo Khu ủy, quyết định rút khỏi vùng căn cứ trong thời gian ngắn nhất.

Sau ngày cuối cùng diễn ra trận đánh quyết liệt giữa ta và địch, các đ/c lãnh đạo và cán bộ chiến sĩ Y4 không có dịp gặp lại nhân dân xã Tân Phú Tây và xã Thành An để nói lời cảm ơn và chia tay những gia đình đã giúp đỡ mình trên 1 năm đứng chân tại đây.

Sau khi chiến tranh qua đi, các đ/c lãnh đạo và anh em chiến sĩ Y4 đã trở về họp mặt và thăm lại căn cứ xưa. Ngày 23/12/1995, để tri ân sự đóng góp của Đảng bộ và nhân dân xã Tân Phú Tây và Thành An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt, Nhà nước đã công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia “Căn cứ Khu ủy Sài Gòn – Gia Định”. Đây là niềm tự hào của nhân dân xã Tân Phú Tây và xã Thành An nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung về vai trò và sự đóng góp của những người con quê hương Đồng Khởi Bến Tre đã sống và chiến đấu xứng đáng với tám chữ vàng “Anh dũng đồng khởi, thắng Mỹ diệt Ngụy”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn