Bài viết

Khúc Hát Đêm Ngầm Khe Tang

Mô tả câu chuyện Câu chuyện đưa ta về vùng đất Quảng Bình tuyến lửa trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước khốc liệt, nơi các ngầm qua suối là "tọa độ chết" hứng chịu hàng ngàn tấn bom đạn mỗi ngày. Đó là mối tình mộc mạc và kiên cường giữa một anh lính công binh ngày đêm rà phá bom mìn và cô gái thanh niên xung phong bám trụ mặt đường, được gắn kết bằng một chiếc khăn tay nhuốm màu khói súng và khát vọng hòa bình.

Quảng Trị16/09/2026Đoàn xã Hải Lựu (Đoàn xã Hải Lựu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tên câu chuyện: Khúc Hát Đêm Ngầm Khe Tang

Nhân chứng lịch sử

  • Ông: Đặng Xuân Hải (Sinh năm 1947, nguyên tiểu đội trưởng công binh thuộc Đoàn 559, làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn qua Quảng Bình).

  • Bà: Hồ Thị Mây (Sinh năm 1952, nguyên nữ thanh niên xung phong đại đội trọng điểm ngầm Khe Tang, tuyến lửa Quảng Bình).

  • Mô tả câu chuyện

    Câu chuyện đưa ta về vùng đất Quảng Bình tuyến lửa trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước khốc liệt, nơi các ngầm qua suối là "tọa độ chết" hứng chịu hàng ngàn tấn bom đạn mỗi ngày. Đó là mối tình mộc mạc và kiên cường giữa một anh lính công binh ngày đêm rà phá bom mìn và cô gái thanh niên xung phong bám trụ mặt đường, được gắn kết bằng một chiếc khăn tay nhuốm màu khói súng và khát vọng hòa bình.


    Nội dung chi tiết

    Mùa khô năm 1972, hệ thống giao thông đường Trường Sơn đoạn qua ngầm Khe Tang (Quảng Bình) chịu sự oanh tạc dữ dội và liên tục của máy bay chiến lược Mỹ nhằm chặn đứng huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam. Nhiệm vụ của Đặng Xuân Hải cùng tiểu đội công binh là bám trụ ngày đêm tại ngầm, rà phá bom nổ chậm, san lấp hố bom và bắc cầu tạm để thông tuyến cho những đoàn xe quân sự qua suối an toàn. Ngay sát trận địa ấy là đại đội thanh niên xung phong của Hồ Thị Mây, ngày đêm túc trực cắm cọc tiêu quang báo, rọi đèn dẫn đường và cấp cứu thương binh.


    Hải và Mây gặp nhau trong một đêm mưa lũ tầm tã. Khi một quả bom nổ chậm vướng ngay dưới lòng ngầm Khe Tang đe dọa toàn bộ tuyến vận tải đang chờ lệnh xuất phát, Hải không ngần ngại lao mình xuống dòng nước xiết để trực tiếp tháo kíp nổ, dưới sự hỗ trợ ánh sáng đèn pin của Mây và đồng đội. Khi tiếng nổ lớn không xảy ra và dòng nước thông tuyến trở lại, ánh mắt thán phục của cô gái thanh niên xung phong và nụ cười rạng rỡ của người lính công binh đã chạm vào trái tim nhau.


    Từ đêm hôm ấy, những lúc ngầm gặp sự cố do bom đạn, ngọn đèn bão trên tay Mây và chiếc cuốc của Hải lại có dịp kề bên. Họ chia nhau từng ngụm nước suối đục ngầu, từng củ sắn lùi tro nóng hổi trong những phút nghỉ ngơi ngắn ngủi trước khi đợt oanh tạc mới bắt đầu.


    Trước ngày đơn vị của Hải nhận lệnh hành quân sâu hơn về hướng Nam, anh tìm gặp Mây bên vách đá ven suối. Hải tháo chiếc khăn tay bằng vải dù chiến lợi phẩm – món quà kỷ vật anh giữ gìn cẩn thận – trao cho Mây và nghẹn ngào hứa: "Em giữ lấy chiếc khăn này, anh hứa dẫu bom đạn có tơi bời cũng sẽ sống để trở về tìm em". Mây ôm chặt chiếc khăn vào ngực, đôi mắt rưng rưng gật đầu giao ước.


    Thế nhưng, khói lửa chiến tranh vô tình và khắc nghiệt. Trong một trận tọa độ ác liệt vào mùa hè năm đó, khu vực ngầm Khe Tang bị bom rải thảm tàn phá nặng nề. Mây bị thương ở chân do sức ép của bom, được đồng đội chuyển gấp về tuyến sau điều trị rồi ra quân sớm. Hải tiếp tục bám trụ chiến trường dài ngày. Thông tin đứt đoạn, hai người thất lạc nhau từ đó suốt hơn nửa thế kỷ.


    Hết chiến tranh, ông Hải phục viên trở về quê nhà miền Trung, mang theo những vết thương chiến trận và chiếc khăn dù kỷ vật trong ký ức. Bà Mây cũng xây dựng gia đình, âm thầm cất giữ chiếc khăn tay trong tráp gỗ nhỏ như một phần linh hồn tuổi trẻ. Cả hai đều đinh ninh rằng mối tình thời hoa lửa ấy đã chìm vào dĩ vãng.


    Đến tháng 7 năm 2024, trong dịp cựu chiến binh Đoàn 559 tổ chức đoàn hành hương về nguồn tri ân chiến trường xưa tại Quảng Bình, ông Hải có dịp quay lại chiến trường xưa. Nhờ sự kết nối của ban liên lạc địa phương, ông vô cùng xúc động khi tìm được địa chỉ của bà Mây.


    Ngày hội ngộ tại ngôi nhà nhỏ ở miền Trung, khi ông Hải bước đến và cất tiếng gọi tên cũ, bà Mây bàng hoàng đánh rơi chiếc túi trên tay. Bà chậm rãi mở tráp lấy ra chiếc khăn dù năm xưa – vẫn còn nguyên vẹn những nếp gấp thời gian. Hai người già nắm chặt tay nhau, những giọt nước mắt hạnh phúc lăn dài trên gò má, trọn vẹn nghĩa tình sau hơn nửa thế kỷ chờ mong trên tuyến lửa Khe Tang.


    Bạn có muốn chúng ta tiếp tục khám phá thêm một câu chuyện đầy xúc động khác trong hành trình sưu tầm ký ức này không?

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn