Khúc Quân Hành Qua Những Năm Tháng Cam Go
Trong đội ngũ những người con ưu tú đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho sự nghiệp độc lập và bảo vệ bình yên của Tổ quốc, câu chuyện của cựu chiến binh Đỗ Văn Nhâm (sinh năm 1950) mang một dấu ấn vô cùng đặc biệt. Nhập ngũ năm 1973 ở tuổi 23 – độ tuổi sung sức và chín chắn, và xuất ngũ năm 1979 đúng vào năm biên cương nổ súng, 6 năm quân ngũ của ông Nhâm là chặng đường dạt dày sương gió, đi qua những năm tháng cuối cùng khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ và trực tiếp có mặt ở tuyến đầu khi biên thùy gặp nguy biến.
Hành trình nằm gai nếm mật khắp các mặt trận đã tôi luyện nên một người lính kiên cường, bất khuất, để lại một ký ức thắt quặn lòng về tình đồng đội nơi chảo lửa năm xưa.
Khúc Quân Hành Qua Những Năm Tháng Cam Go
Mùa xuân năm 1973, ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết, cuộc chiến đấu ở miền Nam vẫn diễn ra vô cùng phức tạp và quyết liệt. Chàng thanh niên Đỗ Văn Nhâm đã tạm gác lại những dự định riêng, khoác lên mình chiếc ba lô con cóc dấn thân vào khói lửa chiến trường. Đơn vị của ông hành quân dọc theo tuyến đường Trường Sơn huyền thoại để chi viện cho các mặt trận phía Nam.
Hành trang trên vai nặng trĩu, những chuyến bộ hành xuyên đêm qua những con dốc dựng đứng, những mùa mưa thối đất thối cát và căn bệnh sốt rét rừng ngã nước chực chờ cướp đi sinh mạng các chiến sĩ trẻ. Sau ngày đại thắng 30/4/1975, đất nước vẹn tròn niềm vui hòa bình chưa được bao lâu thì sấm chớp lại nổi lên ở biên cương. Ý chí của người lính Bộ đội Cụ Hồ lại thúc giục ông tiếp tục bám trụ đơn vị, cơ động lên tuyến đầu giữ chốt cho đến tận năm 1979 mới chính thức nhận quyết định xuất ngũ.
"Gian khổ ngày ấy không thể nào kể xiết, ăn cơm độn sắn mốc, húp bát canh rau rừng không muối. Nhưng giữa cái ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, chúng tôi sưởi ấm cho nhau bằng cái tình đồng chí, nhường nhau từng hớp nước bình tông, từng viên thuốc xuyên tâm liên." – Ông Nhâm xúc động hồi tưởng.
Trận Đánh Giữ Chốt Và Lời Hứa Thiêng Liêng Giữa Cửa Tử
Trong suốt 6 năm binh nghiệp đầy máu và hoa, kỷ niệm khắc cốt ghi tâm nhất trong cuộc đời của cựu chiến binh Đỗ Văn Nhâm gắn liền với một trận chiến giữ chốt đầy cam go để bảo vệ trận địa. Địch phát hiện ra vị trí phòng ngự của ta, liên tục điên cuồng nã pháo cày xới và tung bộ binh càn quét hòng xóa sổ ổ đề kháng.
Xung quanh khói bom đen kịt, đất đá bị cày xới tơi tả và khét lẹt mùi thuốc súng. Sau nhiều giờ chiến đấu kiên cường, quân số đơn vị thương vong nhiều, tại vị trí công sự tiền tiêu chỉ còn lại ông Nhâm và người đồng đội thân thiết tên Hải – người bạn đồng hương gắn bó từ ngày đầu nhập ngũ, đêm nào cũng nằm cạnh nhau chia nhau mảnh tăng dù che sương muối. Địch cậy thế đông quân, tiếp tục mở đợt áp sát mới, tiếng xích xe tăng rầm rập tiến lên.
Lúc này, một quả đạn pháo nổ ngay sát mép hào, sức ép cực mạnh hất văng ông Nhâm vào vách đất, hầm trú ẩn bị sập vùi lấp hoàn toàn thân người ông vào bóng tối đặc quánh. Trong cơn choáng váng, tai ù đặc không còn nghe thấy gì và ngạt thở gắt gao, ông Nhâm cố gượng chút tàn lực để gạt đất cát ra khỏi mắt. Giữa làn khói mù mịt, ông bàng hoàng thấy ông Hải không quản hiểm nguy, pháo vẫn đang găm sập xung quanh, đang dùng hai bàn tay trần cào bới đất đá một cách điên cuồng để kéo ông lên.
Nhưng khi vừa đưa được ông Nhâm ra khỏi đống đổ nát, địch bất ngờ nã một loạt đạn đại liên xối xả qua mép hào. Trong khoảnh khắc sinh tử, ông Hải đã nhanh như cắt, lấy thân mình nhoài người ra che chắn hoàn toàn cho ông Nhâm. Viên đạn ác nghiệt găm trúng bả vai ông Hải, máu tuôn xối xả đẫm cả chiếc áo chiến sĩ bạc màu.
Chứng kiến người bạn tri kỷ vì cứu mình mà gặp nạn, lòng căm thù trong người ông Nhâm bùng cháy. Ông nén đau, gạt dòng nước mắt, một tay đỡ bạn nép vào góc hào an toàn, tay kia ghim chặt khẩu súng máy, nhắm thẳng vào đội hình địch đang bò lên mà nã đạn liên tục, chặn đứng bước tiến của chúng. Ông Nhâm kiên cường giữ vững trận địa một mình cho đến khi lực lượng tiếp viện của ta kịp thời xông lên ứng cứu, đánh bật quân địch khỏi cao điểm. Ông Hải ngay sau đó được đưa về tuyến sau phẫu thuật và may mắn giữ được tính mạng. Giây phút gặp lại nhau ở trạm quân y, hai người lính trẻ chỉ biết nắm chặt lấy tay nhau, nước mắt nghẹn ngào vì biết mình đã cùng nhau bước qua cửa tử.
Giữ Vẹn Phẩm Chất Giữa Đời Thường
Năm 1979, khi đã hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ thiêng liêng với non sông, cựu chiến binh Đỗ Văn Nhâm nhận quyết định xuất ngũ, giã từ màu áo lính để trở về với cuộc sống đời thường.
Trở về quê hương ở tuổi 29 với hành trang là một cơ thể mang theo những vết sẹo chiến tranh cùng những cơn đau nhức nhối mỗi khi trái gió trở trời, ông lại tiếp tục bước vào một mặt trận mới: lao động sản xuất, phát triển kinh tế gia đình và kiến thiết quê nhà trong thời kỳ hòa bình. Bản lĩnh, ý chí của một người lính được tôi luyện qua gian khổ đã giúp ông đứng vững trước những vất vả, thiếu thốn của cuộc sống, nuôi dạy con cháu trưởng thành. Ông luôn sống gương mẫu, thủy chung, nghĩa tình và tích cực tham gia vào các hoạt động của Hội Cựu chiến binh tại địa phương.
Đối với ông Đỗ Văn Nhâm, 6 năm quân ngũ (1973 - 1979) ngắn ngủi so với một đời người, nhưng lại là quãng thời gian rực rỡ và tự hào nhất. Câu chuyện về đôi bàn tay trần cào đất cứu nhau và tấm lưng che đạn năm xưa mãi là mảnh ký ức thiêng liêng, một bài ca bất tử về tình đồng chí son sắt mà ông luôn gìn giữ, trân trọng, như một minh chứng sống động cho phẩm chất cao đẹp của Anh bộ đội Cụ Hồ



