Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Khúc tráng ca bất tử: Tạc vào non sông tượng đài người anh hùng Thái Văn Lung

Ghi nhận những cống hiến to lớn cho Tổ quốc, tên tuổi Anh hùng Thái Văn Lung mãi mãi trường tồn cùng non sông gấm vóc, là niềm tự hào vô bờ bến của quê hương TP. Hồ Chí Minh và nhân dân cả nước.

Vĩnh Long28/10/2026Đoàn phường Tân Khánh (Phường Tân Khánh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chân dung: Thái Văn Lung
Chân dung: Thái Văn Lung

Ghi nhận những cống hiến to lớn cho Tổ quốc, tên tuổi Anh hùng Thái Văn Lung mãi mãi trường tồn cùng non sông gấm vóc, là niềm tự hào vô bờ bến của quê hương TP. Hồ Chí Minh và nhân dân cả nước.

Vết son lịch sử và tấm gương kiên trung

Tuổi thanh xuân của Anh hùng Thái Văn Lung là tấm gương sáng ngời về ý chí dâng hiến và khát vọng độc lập tự do. Câu chuyện về người chiến sĩ trẻ quê hương TP. Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn lửa lý tưởng truyền cảm hứng mãnh liệt cho thế hệ hôm nay.

Thái Văn Lung (14 tháng 7 năm 1916 - 2 tháng 7 năm 1946) là một luật sư, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I và là một chiến sĩ cách mạng, chỉ huy quân sự nổi bật trong thời kỳ Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp. Vốn xuất thân là một sĩ quan mang quốc tịch Pháp, ông đã từ bỏ mọi vinh hoa phú quý để tham gia lực lượng Việt Minh, trở thành thủ lĩnh của tổ chức lực lượng vũ trang "Bộ đội Thái Văn Lung" khét tiếng tại cửa ngõ phía đông Sài Gòn và đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập của nước nhà khi chưa tròn 30 tuổi.

Thái Văn Lung sinh ngày 14 tháng 7 năm 1916 (một số tài liệu ghi năm 1914) tại huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, xuất thân trong một gia đình trí thức khá giả thuộc "làng Tây" theo đạo Thiên Chúa giáo. Ông có tên Thánh là Albert. Cha ông là kỹ sư Thái Văn Lân, một nhân sĩ giao du rộng trong giới văn nghệ sĩ thời bấy giờ. Em gái ông là Thái Thị Liên (1918–2023), sau này trở thành Nhà giáo Nhân dân, Nghệ sĩ Nhân dân và là nghệ sĩ piano nổi tiếng, mẹ của hai nghệ sĩ nhân dân Đặng Thái Sơn và Trần Bạch Thu Hà.

Ngay từ thời thiếu niên, ông đã được gia đình cho sang Pháp du học. Ông thi đỗ Cử nhân Khoa Luật hạng ưu tại Đại học Paris, đồng thời theo học thêm tại Trường Khoa học Chính trị (trường chuyên đào tạo các chính khách) và Trường Thuộc địa (Ecole Coloniale).

Năm 1930, ông chính thức mang quốc tịch Pháp. Nhờ đó, ông phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia học tại Trường võ bị nổi tiếng Saint Cyr (hoặc Trường Sĩ quan Pháo binh), ra trường với quân hàm Chuẩn úy. Trong 4 năm phục vụ trong quân đội Pháp, ông đã tham gia chiến đấu trong cuộc chiến tranh Pháp - Xiêm (Thái Lan) và Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1941, ông được thăng hàm Trung úy, sau đó xin giải ngũ.

Năm 1941 (có nguồn ghi tháng 3 năm 1945), ông trở về Việt Nam và làm tập sự trạng sư, rồi trở thành trạng sư (luật sư) chính thức tại Tòa Thượng thẩm Sài Gòn. Hành nghề luật, ông tiếp xúc nhiều với dân nghèo, thấu hiểu nỗi khổ cực của họ bị chà đạp, áp bức nên thường đứng ra bênh vực.

Tháng 3 năm 1945, khi phát xít Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương, Xứ ủy Nam Kỳ (do đồng chí Trần Văn Giàu đứng đầu) đã tương kế tựu kế, lợi dụng đề nghị của Nhật để xây dựng một lực lượng thanh niên công khai nhưng thực chất là một tổ chức yêu nước, chống cả Pháp và Nhật. Đó chính là tổ chức Thanh niên Tiền phong.

Luật sư Thái Văn Lung cùng với các trí thức như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, nha sĩ Nguyễn Văn Thủ, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng... đã tham gia sáng lập và trở thành một trong những thủ lĩnh của lực lượng này. Với những kiến thức quân sự bài bản từ Pháp, ông được phân công phụ trách công tác huấn luyện quân sự cho các đội viên, góp phần quan trọng chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Sài Gòn vào ngày 25 tháng 8 năm 1945.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm trụ sở chính quyền cách mạng ở trung tâm Sài Gòn, mở đầu cuộc Nam Bộ kháng chiến. Ngay trong buổi sáng hôm đó, quân Pháp lùng sục và bắt giữ Thái Văn Lung. Bị địch tra tấn nhưng ông vẫn nén đau, không để lộ thân phận và sau đó đã mưu trí trốn thoát khỏi sự kiểm soát của giặc.

Thoát ly gia đình, ông trở về ngoại thành Thủ Đức tham gia kháng chiến và được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến quận Thủ Đức. Tại đây, ông tập hợp các đoàn viên Thanh niên Cứu quốc từ các xã Linh Trung, Phong Phú, Xuân Hiệp, Trường Thọ tổ chức cướp súng giặc để tự vũ trang. Ngày 26 tháng 9 năm 1945, ông bí mật đưa lực lượng từ Thủ Đức đánh vào Cầu Bông, rồi phối hợp với lực lượng Gò Vấp phục kích địch tại ngã ba Chú Ía, bắn cháy xe Jeep và tiêu diệt nhiều lính Pháp.

Cuối tháng 11 năm 1945, từ các lớp huấn luyện quân sự của Tỉnh ủy Gia Định, khu vực Thủ Đức hình thành 4 phân đội vũ trang lấy phiên hiệu là 43 (gồm bộ phận Tân Bình rút qua), 44, 45, và 46. Cả 4 đơn vị này đều do Thái Văn Lung chỉ huy, nhờ sự dũng cảm và uy tín của ông, nhân dân địa phương gọi chung lực lượng này bằng cái tên trìu mến là "Bộ đội Thái Văn Lung". Lính Pháp ở Thủ Đức đặc biệt e ngại và khiếp sợ lực lượng này vì biết thủ lĩnh của họ là một cựu sĩ quan được đào tạo bài bản trong quân đội Pháp.

Thái Văn Lung

""Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, tinh thần của người chiến sĩ thời hoa lửa mãi mãi rực sáng.""

Sống mãi trong lòng nhân dân và đất nước

Đầu năm 1946, khi Pháp đánh nống ra vùng ven nội đô, ngoài việc cầm quân, Thái Văn Lung còn cùng luật sư Phạm Ngọc Thuần (Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ) tích cực làm công tác dân vận, quyên góp tiền, gạo, viết thư kêu gọi anh em trí thức Sài Gòn ủng hộ tiếp tế cho bộ đội.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, trong cuộc bầu cử Tổng tuyển cử đầu tiên của cả nước, Luật sư Thái Văn Lung đã trúng cử và trở thành một trong 6 Đại biểu Quốc hội khóa I đại diện cho tỉnh Gia Định (cùng với Phạm Văn Khung, Lê Văn Mảng, Trịnh Thị Miếng, Trần Văn Nguyên và Nguyễn Oắng).

Tháng 3 năm 1946, Tỉnh ủy Gia Định thành lập Chi đội 6 tại Chiến khu An Phú Đông (chi đội bộ đội chủ lực đầu tiên của tỉnh). Chi đội 6 gồm 3 đại đội, trong đó Đại đội 15 do Luật sư Thái Văn Lung làm Đại đội trưởng (tập hợp lực lượng vũ trang của Nguyễn Văn Banh, Mai Văn Trừ, Trần Văn Cam và Thái Văn Lung). Nhận lệnh từ Tư lệnh Nam Bộ Nguyễn Bình rút về chiến khu Đ an toàn, nhưng ông đã kiên quyết xin được ở lại cửa ngõ Sài Gòn để sống chết cùng bộ đội của mình.

Đầu tháng 7 năm 1946 (khoảng cuối tháng 6), thực dân Pháp mở trận càn lớn vào xã Phước Long, huyện Thủ Đức. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Do lực lượng địch quá đông và hỏa lực mạnh, Thái Văn Lung ra lệnh cho bộ đội rút xuống hầm bí mật để bảo toàn lực lượng. Không may, ông bị tên Hương quản Tâm (tay sai của địch) chỉ điểm nên Pháp đã bao vây và bắt được ông cùng một đồng đội dưới hầm ẩn náu.

Biết ông là người từng có quốc tịch Pháp và là cựu sĩ quan Pháp, tên chỉ huy trưởng Tiểu khu Thủ Đức đã dụ hàng, dọa xử bắn nếu không khai báo bí mật quân sự. Thái Văn Lung khẳng khái đáp trả:

Kẻ thù tức lộn ruột, chuyển sang tra tấn ông vô cùng dã man. Có lúc tỉnh lại, ông yêu cầu cho gặp gia đình. Bọn giặc mừng rỡ tưởng gia đình sẽ thuyết phục được ông cộng tác, nhưng khi gặp vợ, ông trăng trối:

Cũng trong nhà lao, ông nhắn nhủ một người bạn tù trẻ tuổi: "Tôi chắc không sống bao lâu nữa; dù phải chết tôi cũng không luyến tiếc gì cả... Nếu như em còn sống và được thả ra, em hãy nói với đồng đội của chúng ta hãy cố gắng hết sức mình, hướng về mục đích mà chúng ta đã xác định cho đến ngày chiến thắng cuối cùng".

Ngày 2 tháng 7 năm 1946 (có nguồn ghi ngày 1 tháng 7), Luật sư Thái Văn Lung trút hơi thở cuối cùng trong tù do đòn roi tra tấn tàn bạo của địch, khi chưa tròn 30 tuổi. Sau đó, người phát ngôn quân đội Pháp tại Sài Gòn đã bịa đặt thông tin rằng ông "tự tử vì không chịu nổi cực hình" nhằm trút bỏ trách nhiệm giết hại một trí thức nổi tiếng và mỉa mai người thủ lĩnh kháng chiến.

Sự hy sinh của Luật sư Thái Văn Lung gây chấn động mạnh mẽ trong giới trí thức và quân dân Nam Bộ bấy giờ.

Ghi nhận những chiến công đặc biệt xuất sắc và sự cống hiến quên mình vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Thái Văn Lung. Tấm gương sáng ngời của người anh hùng mãi mãi là niềm tự hào của quê hương TP. Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam, là bài học lịch sử vô giá soi đường cho các thế hệ trẻ hôm nay noi gương học tập và noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn