Bài viết

KHÚC TRÁNG CA CỦA MÁU VÀ NƯỚC MẮT: CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA VÀ MẸ NGUYỄN THỊ THỨ

Đà Nẵng03/12/2025Chi Đoàn 12/3 (Đoàn trường THPT Thanh Khê)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hòa bình mà chúng ta đang hít thở hôm nay không phải là món quà ngẫu nhiên từ thời gian, mà là bản giao hưởng bi tráng được tấu lên từ máu xương của hàng triệu người con đất Việt. Trong bản tráng ca vĩ đại ấy, Mẹ Nguyễn Thị Thứ chính là Trái tim bất khuất và trụ đá kiên cường, một tượng đài bất tử sừng sững trên dải đất miền Trung nắng gió, người phụ nữ đã dâng hiến cho Tổ quốc đến mười hai khúc ruột thân yêu.

Mười hai liệt sĩ từ một mái nhà tranh nghèo khó—đó không chỉ là một con số, mà là một Thiên niên sử của nỗi đau, là mười hai lần tim mẹ vỡ vụn rồi lại được hàn gắn bằng ngọn lửa yêu nước không bao giờ tắt. Câu chuyện của Mẹ Thứ không phải là bi kịch cá nhân, mà là huyền thoại về sức mạnh của lòng mẹ, một sức mạnh đã nâng đỡ cả một dân tộc đứng dậy giữa mưa bom bão đạn.

I. Mảnh Đất Dịu Dàng Mang Tên Lửa Khói

Mẹ Thứ sinh ra ở thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, Quảng Nam – mảnh đất khắc nghiệt, nơi cái nghèo và ý chí quật cường song hành. Cuộc đời mẹ là chuỗi ngày lam lũ, gánh gồng, nhưng khi giặc Pháp quay lại, gót giày xâm lược chà đạp lên bờ cát trắng, gieo rắc lửa chiến tranh lên từng luống khoai, mẹ hiểu rằng có một thứ còn quý giá hơn cả sinh mạng: Độc lập.

Chồng và các con trai mẹ lần lượt khoác áo du kích. Dưới mái hiên lợp rơm, mẹ nhẹ nhàng buộc dải khăn đỏ lên vai con, không một giọt nước mắt chảy xuôi, chỉ một lời dặn thầm thì, giản dị mà như lời thề non nước: “Còn nước mình thì còn nhà mình.”

Lời dặn ấy đã mở đầu cho cơn lốc tang thương kéo dài hơn ba mươi năm, nơi mỗi tiếng bom nổ là một nhịp đập kinh hoàng trong lồng ngực người mẹ.

II. Mười Hai Nhát Dao Cứu Vào Lòng Mẹ: Thiên Niên Sử Của Sự Mất Mát

Sự hy sinh của gia đình Mẹ Thứ diễn ra với một tần suất khủng khiếp, vượt qua mọi giới hạn chịu đựng của con người. Đó là chuỗi ngày mà thần Chết dường như đã chọn mái nhà rơm này làm trạm dừng chân quen thuộc.

Năm 1948, năm đất nước đang rên siết dưới gót giày Pháp. Chỉ trong vòng bốn tháng, căn nhà nhỏ nhận về ba tấm giấy báo tử. Người con trai thứ ba, Lê Tự Xuyến, ngã xuống. Nước mắt chưa kịp khô, mười ngày sau, Lê Tự Hàn (anh) hy sinh khi làm nhiệm vụ tải thương. Mười ngày nữa, Lê Tự Hàn (em) cũng không trở về trong một trận chống càn. Ba khúc ruột bị cắt lìa chỉ trong tích tắc, khiến nỗi đau không còn là sự đau xót, mà đã hóa thành một sự câm lặng kinh hoàng.

Nỗi đau không dừng lại. Thời gian trôi đi, mỗi giai đoạn của cuộc chiến là một lần Mẹ lại tiễn đưa: Lê Tự Lem (1954), Lê Tự Nự (1966), và đến đỉnh điểm của “Mùa hè đỏ lửa” 1972, hai người con Lê Tự Mười và Lê Tự Trịnh cùng mãi mãi nằm lại chiến trường. Chiến tranh cướp đi cả con rể Ngô Tường và hai cháu ngoại Ngô Thị Cúc, Ngô Thị Điểu, hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Nhưng điều đau đớn nhất, xé lòng nhất lại đến vào ngày cuối cùng của chiến tranh, một bi kịch lịch sử: Bi kịch Giờ Phút Khải Hoàn.

Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cả nước rộn ràng, hơi thở chiến thắng đã ngập tràn Sài Gòn. Mẹ Thứ khấp khởi chờ đón người con trai cả, Lê Tự Chuyển, chiến sĩ biệt động Sài Gòn. Nhưng vào đúng 9 giờ sáng hôm ấy, chỉ vài giờ trước khi lá cờ giải phóng tung bay trên Dinh Độc Lập, anh Chuyển ngã xuống ngay tại cầu Rạch Chiếc, cửa ngõ Sài Gòn.

Khi cả dân tộc vỡ òa trong niềm vui thống nhất, trái tim mẹ Thứ lại thêm một lần tan vỡ, bởi người con cuối cùng đã ra đi trong giờ phút thiêng liêng nhất, không kịp thấy được ngày Tổ quốc trọn vẹn. Mười hai lần hy sinh, nỗi đau chất chồng cao tựa Trường Sơn, biến người mẹ gầy guộc này thành tượng đài sống của sự chịu đựng.

III. Pháo Đài Sống Giữa Hậu Phương: Ý Chí Của Nước Việt

Đau thương tột cùng, nhưng Mẹ Thứ không gục ngã, Mẹ không cho phép mình gục ngã. Mẹ nén nước mắt vào sâu thẳm tâm can, biến nỗi đau mất mát thành ngọn lửa cách mạng. Mẹ trở thành một "Pháo đài sống" giữa hậu phương của chiến trường ác liệt.

Khu vườn nhà mẹ, dưới bụi tre già và gốc mít, là nơi ẩn chứa năm căn hầm bí mật. Hàng trăm lượt cán bộ Khu 5, bộ đội, thương binh đã được mẹ và người con gái Lê Thị Trị che chở, nuôi giấu. Địch càn quét, mẹ khoác nón lá, ẵm bó cỏ giả vờ chăn bò, dùng thân mình gầy guộc để xóa đi dấu vết cửa hầm. Hằng đêm, ngọn đèn dầu tù mù bên bàn thờ vừa là ám hiệu an toàn, vừa là ánh sáng để mẹ khâu vá áo trận, gói cơm nắm tiếp tế.

Lời mẹ gửi ra chiến trường sau khi nhận ba tin tang liên tiếp cuối năm 1948 vẫn vang vọng: "Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước." Lời nhắn ấy không chỉ là sự chịu đựng, mà là một mệnh lệnh thiêng liêng, tiếp thêm sức mạnh cho cả một đội quân đang chiến đấu. Ý chí của mẹ đã vượt qua cả bi kịch cá nhân để trở thành ý chí của cả một cuộc kháng chiến.

IV. Di Sản Bất Diệt: Lời Thề Thanh Niên Trước Chín Bát Đũa

Năm 1994, Mẹ Nguyễn Thị Thứ được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Mẹ trở thành nguyên mẫu cho quần thể Tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng quốc gia vĩ đại tại núi Cấm, Quảng Nam, như một cột mốc vĩnh cửu của lòng yêu nước.

Năm 80 tuổi, mẹ Thứ mù đôi mắt, sống với con gái ở quê nhà sau đó chuyển ra Đà Nẵng sống cùng con út Lê Tự Tân cho đến khi mất ở tuổi 106 vào ngày 10-12-2010.

Sự mất mát, hy sinh của gia đình mẹ Thứ không có bút mực nào diễn tả hết. Nhiều cựu lãnh đạo, cán bộ vẫn còn kể câu chuyện, vào năm 1998 khi một đoàn khách nước ngoài về thăm mẹ Thứ, một nhà báo, cựu chiến binh người Hàn Quốc đã hỏi mẹ: “Thưa bà, với quan niệm người Á Đông, con cái là phúc lộc, là tài sản. Khi người con thứ tư, thứ năm tử trận, tại sao bà vẫn tiếp tục động viên những người con khác ra mặt trận”?

Mẹ Thứ điềm tĩnh trả lời: “Ở nước tôi, Cụ Hồ đã dạy là “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nên cứ là người Việt Nam, trong đó có các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành lấy độc lập, tự do. Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận để giành độc lập, tự do, bình yên mà hôm nay chúng tôi đang hưởng”. Người cựu chiến binh Hàn Quốc sững người, rưng rưng nước mắt rồi thấp người xuống, cầm tay xin lỗi mẹ…

Trong hồi tưởng của Bà mẹ VNAH Lê Thị Trị có đoạn viết: “Lúc Mẹ (tức mẹ Thứ - PV) còn sống, mỗi khi tới kỳ giỗ chạp của các con hay ngày Tết Nguyên đán, ngày Thương binh Liệt sỹ, Mẹ lọ dọ chống gậy đến bàn thờ thắp 9 ngọn nến, 9 nén hương và xếp 9 cái bát, 9 đôi đũa bên mâm cơm để gọi các con về với Mẹ… Lại có những đêm thiếp đi trong cơn mê, Mẹ như thấy các con về, Mẹ choàng tỉnh dậy, nước mắt lưng tròng đến trước bàn thờ gọi tên từng người con yêu quý và thắp 9 nén hương để tưởng nhớ các con…”

Đợi con về. Ảnh: Trần Hồng

V. Di Sản Bất Diệt: Tượng Đài Hóa Thân Thành Đất Nước

Năm 80 tuổi, mẹ Thứ mù đôi mắt. Mẹ mất ở tuổi 106 vào ngày 10-12-2010. Ngày 14-12, toàn thể nhân dân Điện Bàn và bà con thập phương đã đưa mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Ngôi Nhà Di Tích: Năm 2012, ngôi nhà Mẹ Thứ được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Nơi đây không đơn thuần là một nơi lưu giữ nỗi đau mà còn là minh chứng cho lòng yêu nước bất diệt. Bên trong căn nhà là những vật dụng đã cũ, bức di ảnh trắng đen của từng người con – mỗi một khung ảnh là một nỗi đau lặng thầm.

Hình ảnh nhà di tích

Ngôi nhà tuy giản dị nhưng ấm cúng, là nơi để ta biết dừng lại, cúi đầu tri ân, và bước tiếp vững vàng.

Tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ là công trình nhằm tri ân sự hy sinh của thế hệ đi trước

Quần Thể Tượng Đài Quốc Gia: Trân trọng sự cống hiến vô ngần, năm 2004, Đảng và Nhà nước đồng ý xây dựng Quần thể Tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Công trình được khởi công năm 2009 tại núi Cấm (Tam Kỳ, Quảng Nam) và hoàn thành năm 2015. Đây là tượng đài Bà mẹ VNAH lớn nhất nước.

Nguyên mẫu: Công trình lấy nguyên mẫu từ Mẹ Nguyễn Thị Thứ.

Ý tưởng: Mẹ là suối nguồn bao la vô tận, là linh hồn đất nước. Mẹ sinh ra từ mảnh đất anh hùng, rồi sinh ra những người con anh hùng và sẽ lại hóa thân vào đất, vào non nước Việt Nam.

Kích thước: Họa sĩ Đinh Gia Thắng đã thể hiện bức tượng mẹ Thứ cao 18,5m, rộng 84,7m. Bên trong tượng đài là Nhà tưởng niệm Mẹ VNAH, bia ghi danh gần 50.000 Mẹ VNAH cả nước.

Lời Thề Thanh Niên

Trân trọng gửi đến các đoàn viên, thanh niên trường THPT Thanh Khê,

Cuộc đời Mẹ Nguyễn Thị Thứ là minh chứng hùng hồn nhất cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Mẹ không còn nữa, nhưng di sản của mẹ là ngọn lửa thiêng liêng, không cho phép chúng ta quên đi cái giá của độc lập. Câu chuyện thời hoa lửa ấy sẽ mãi là bài học máu xương cho muôn đời sau.

Đứng trước tượng đài Mẹ Thứ, ta nghe thấy gió biển thổi qua vầng đá hoa cương, như lời mẹ nhắn nhủ thế hệ mai sau: "Các con ơi, non sông này đã liền một dải, hãy giữ lấy bình yên, đừng để máu phải rơi thêm lần nữa."

Mỗi hành động học tập, rèn luyện hôm nay của các bạn chính là hành động tri ân sâu sắc nhất. Hãy rèn cho mình "đức - trí - dũng - nhân" như lời dặn của tiền nhân, trở thành những chiến sĩ trên mặt trận trí tuệ, làm chủ khoa học, công nghệ, kiên quyết bảo vệ và xây dựng non sông này.

Đó là lời thề bất diệt, là mệnh lệnh của lịch sử. Hãy sống, học tập và dấn thân sao cho xứng đáng với không chỉ là Mười Hai Mùa Xuân Bất Tử mà còn là những Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến, thương binh, bệnh binh, người hoạt động cách mạng, người có công giúp đỡ cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, các cựu chiến binh, cưu thanh niên xung phong, cán bộ đoàn đã từng tham gia kháng chiến, các Ba Má phong trào, các nhân chứng trực tiếp tham gia vào các cuộc kháng chiến và các sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc... đã dâng hiến cho Đất Nước!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn